Thứ sáu, 23/02/2024,


Thấp thoáng Hữu Loan (20/03/2010) 

Vào lúc 19g00 tối 18.3.2010, nhà thơ Hữu Loan, tác giả của bài thơ Màu tím hoa sim đã vĩnh viễn từ giã cõi đời khi bước sang tuổi 95 (1916 - 2010). Trong lúc chờ đợi con cái về đông đủ, bà Phạm Thị Nhu, vợ ông và các con ở quê đã khâm liệm đặt ông vào quan tài yên nghỉ vào lúc 23g cùng ngày. 

Sau khi con cháu đã đông đủ, gia đình làm lễ phát tang lúc 1g30 phút sáng ngày 19.3.2010. Lễ động quan diễn ra vào 15g30 phút chiều cùng ngày và đưa ông về nghĩa trang của xã Nga Lĩnh, nơi yên nghỉ cuối cùng của ông.

Nhà thơ Hữu Loan, sinh năm 1916, tại quê nhà là thôn Vân Hoàn, xã Ngọc Linh, huyện Nga Sơn Thanh Hoá. Là lão thành cách mạng, Hữu Loan từng giữ chức Phó chủ tịch UB Khởi nghĩa huyện Nga Sơn, Uỷ viên UB Kháng chiến Hành chính tỉnh Thanh Hoá 1946, kiêm Trưởng ty bốn Ty: Giáo dục, Thông tin, Công chính và Thương chính; chủ bút báo Chiến sỹ của Sư đoàn 304 ở Liên khu IV. Sau 1954, Hữu Loan về công tác ở Tạp chí Văn nghệ một thời gian ngắn rồi về Nga Sơn làm nghề thợ đá, nuôi một đàn con nghe đâu những 9 – 10 người. Đời sống văn học của Hà Nội vắng Hữu Loan, bạn bè nhớ ông, cũng chỉ dám nhớ âm thầm như Quang Dũng trong bài Nhớ Hữu (một bút danh của nhà thơ) có câu: Một chiếc linh hồn nhỏ/ Đi về chân núi xanh…

Nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn, kiêm Tổng biên tập website: Vanvn.net và nhà văn Đặng Ái, đã vào Thanh viếng anh linh nhà thơ Hữu Loan, lucbat.com xin thắp một nén hương thiêng vĩnh biệt linh hồn người thi sĩ đáng kính và trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc bài viết của Hà Đình Cẩn.

 

 

Di ảnh nhà thơ Hữu Loan

 

Cả ba lớp cửa từ đường làng vào vườn, vườn vào sân, sân vào nhà của nhà thơ Hữu Loan đều khép hờ. Ai ra vào tuỳ ý. Nhưng xem ra cũng ít người qua lại, trừ đám trẻ, như bà cụ hàng xóm nói, chúng kéo đến vào mùa nhãn, cho đến khi bói không ra một quả, rồi thôi, bỏ lại khu vườn đã vặt trụi hoa trái cho hai ông bà già...

Bà cụ hàng xóm mau mắn: các bác có lòng đến thăm cụ Tú thì cứ vào, chứ gọi cửa cũng không có người ra đón đâu. Cụ Tú con đàn cháu đống, ra ở riêng cả rồi, về già chỉ còn lại hai cái bóng mướp. Cụ Tú có nhà đấy, chắc lại đang ngồi ngắm rượu.

Nhà thơ đang ngồi ngắm rượu thật, trên manh chiếu trải ngoài hiên, tựa lưng vào tường, hai đầu gối so lên cằm, mái tóc bạc trắng rũ xuống, mắt nhìn đắm đuối vào chén rượu trên tay. Mâm bát sơ sài, chỉ một quả chối xanh, nhúm muối và đôi đũa lệch. Nhà văn xứ Thanh, Kiều Vượng, nói với tôi, mỗi năm ông vài lần đến thăm cụ Loan, lần nào cũng gặp cụ ngồi nhìn chén rượu thế kia, chỉ nhìn mà ít uống.

Cụ đang sáng tác hay chỉ ngồi ngắm chén rượu như một thói quen của một thượng thọ ngoài tám mươi? Tôi không biết. Kiều Vượng cũng chịu. Chỉ có nhà thơ Trịnh Thanh Sơn, cùng quê Nga Sơn, từng nhiều lần hầu rượu cụ Loan, thì đoan chắc thi sĩ đang nghĩ về thơ đấy, nghĩ lạ lắm, chả giống ai. Đời thơ của cụ bắt đầu từĐèo Cả, khép lại là Hoa lúa, vỏn vẹn mươi bài, nhưng cụ nghĩ về thơ, người thơ, cõi thơ thì cả đời, nếu chép ra thì cả bộ trường thiên.     

Thi bá cho rằng thơ thuộc về âm, nghĩa là thuộc về đêm, thuộc về trăng, con nước, thuộc về đàn bà. Người có sao Thái âm đóng cung mệnh, người đó mới làm được thơ, mới trở thành nhà thơ. Thơ thuộc hành thuỷ, mềm đấy mà cứng đấy, thấy trước mặt mà không nắm được trong tay,ngỡ là hữu hình mà hoá ra vô hình. Bở vậy trong thơ thường có trăng, có sông, lại khăng khít với nhau, tạo những suối nước. Ngày trăng viên mãn, thì nước ngập tràn.Ngày trăng hao mòn thì con nước nghẹn ngào. Bản chất của thơ là buồn, là cô đơn, là hiu quạnh. Khi vui người ta hát. Khi buồn người ta đọc thơ. Kiếp nhân sinh có vui có buồn. Khi buồn người ta cần có thơ để vịn mà đi. Thơ trường tồn là vậy. Bao nhiêu rượu quê Nga Sơn, bao nhiêu chiều ngồi ngắm rượu trên tay của một đời thơ để cụ cảm về thơ, nghĩ về thơ tràn đầy và thâm hậu đến như vậy? 

Nhà thơ ngồi đó, trước mặt tôi, như ngồi để chờ một phép lạ giúp cụ được tan vào thứ ánh sáng vườn chiều sâm sẫm bò loang trên cỏ rác. Giá thử không có chúng tôi đánh động thì cơ chừng cụ sắp tan vào chiều quê thật. Được thế thì sướng quá, nhưng trời lại chưa cho nên xem cái dáng cụ ngồi ngắm chén rượu thấy cái vẻ thi nhân chưa được thư thái, mãn nguyện, buông xuôi sự đời của trưởng lão, mà vẫn như để tự giam mình cho đến cõi khổ tận cam lai của đời người bao vuông tròn...

Trong các nhà thơ thuộc thế hệ đầu cách mạng, có lẽ Hữu Loan là người nhiều bước thăng trầm hơn cả. Ông người quê nghèo Nga Sơn Thanh Hoá, từ nhỏ, nói như Nam Cao, ít khi được thoả cơm nhưng ham học, lại sáng dạ nên hai mươi tuổi đã đậu tú tài. Dến tận bây giờ bà con láng giềng vẫn cứ một cụ Tú Loan, hai cụ Tú Loan là vậy. Cụ Tú học trường Tây, nhưng không đi làm cho Tây ở Sở Dây thép, mà mở trường dạy trẻ và hoạt động trong phong trào Bình dân rồi tham gia Việt Minh.

Ngày cách mạng Tháng Tám ông 29 tuổi, được cử làm Phó chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa huyện Nga Sơn. Trong cuộc mít tinh phát động Tuần lễ vàng, hàng ngàn người xứ Thanh vây quanh anh cán bộ Việt Minh trẻ, đẹp trai, diễn thuyết dõng dạc đầy cảm hứng và mới mẻ về cách mạng, về chính quyền nhân dân, về nghĩa vụ người dân với nước Việt Nam mới độc lập có sức cuốn hút kỳ lạ, khiến cho nhiều người sẵn sàng góp công, góp của ủng hộ kháng chiến. Anh cán bộ Việt Minh tài hoa ấy chính là Hữu Loan, thành viên Uỷ ban Lâm thời tỉnh Thanh Hoá, phụ trách bốn Ty: Giáo dục, Thông tin, Thương chính và Công chính. Cũng buổi sáng diễn thuyết này có cô học trò 16 tuổi vô cùng ngưỡng mộ bởi tài hoa cậu Tú Loan ngày nào đã cởi vòng xuyến vàng góp cho chính quyền nhân dân.

 

Nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn đọc điếu văn

 

Kháng chiến bùng nổ, Hữu Loan làm công tác tuyên truyền, phụ trách tờ báo Chiến sĩ ở Mặt trận miền Trung. Ký giả chiến tranh Hữu Loan có chuyến đi công tác nhớ đời, giống tráng sĩ, cưỡi con ngựa đực bất kham từ Huế dong duổi dọc miệt rừng miền Trung, đến với các đội Hồng quân mới từ thành phố, làng quê đồng bằng kéo lên bưng biền, tựa thế hiểm của núi non hùng vĩ dựng trận địa, bước vào cuộc chiến đấu lần thứ nhất đầy khí phách: Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Thay vì viết những phóng sự, chủ bút Hữu Loan lấy thơ để diễn tả những tình cảm trào dâng trước thiên nhiên và người lính vạm vỡ, gân guốc, đầy nhiệt huyết buổi đầu cách mạng.

            Đèo cả !

            Đèo cả !

            Núi cao ngất !

            Mây trời Ai Lao

            Sầu đại dương

            Dặm về heo hút

            Đá bia mù sương !

            Bên quán Hồng quân

            Người

                 ngựa

                         mỏi

            Nhìn dốc

                  ngồi than

                         thương 

                               ai

                                   lên

                                        đường

             ... 

           Râu ngược

                   chào nhau 

                            bên sườn núi

           Giặc từ Vũng Rô bắn tới

           Giặc từ trong tràn ra

           Nhưng Đèo Cả 

                    vẫn

                          giữ

                                vững

            Chân đèo nam

                      máu giặc

                      bao lần

                                nắng khô

            Sau mỗi lần thắng

            Những người lính Đèo Cả

            Về bên suối

                       đánh cờ

             Người hái cam rừng

                        ăn nheo mắt

             Người vá áo

                         thiếu kim

                                 mài sắt

             Người đập mảnh chai       

                          vểnh cằm

                                  cạo râu

             Suối mang bóng người

             soi

                  những

                           về

                                đâu ? !

 

Đèo Cả gập ghềnh, vạm vỡ, chữ quánh đặc, nhấp nhô như dốc đá, tư thế kiêu sang, tươi rói về hiện thực ngày đầu kháng chiến, thật giàu phong vị sử thi. Sau này nhìn lại lịch sử văn học cách mạng, Đèo Cả cùng với Nhớ máu của Trần Mai Ninh được xếp lên vị trí mở đầu thời đại thơ ca mới. Nhưng bấy giờ với Hữu Loan Đèo Cả chỉ như lời tâm sự ông dồn nén, chan chứa yêu thương về cuộc kháng chiến sinh tử của dân tộc, viết để gửi cho một người đọc, cô Đỗ Thị Ninh, người học trò cũ đã hào phóng cởi xuyến vàng góp cho kháng chiến. Họ nên vợ nên chồng vào hai năm sau đó, đầu năm 1948, bấy giờ Hữu Loan là cán bộ tuyên huấn của một đơn vị chủ lực.

Trong chiến tranh thật khó có hạnh phúc trọn vẹn. Chỉ bảy tháng sau ngày cưới, Hữu Loan đang ở chiến trường, nhận tin vợ mất. Tráng sĩ Hữu Loan khóc vợ bằng Màu tím hoa sim làm xúc động bạn đọc nhiều thế hệ.

 

           Tôi người Vệ quốc quân

                         xa gia đình

           Yêu nàng

                          như tình yêu em gái

           Ngày hợp hôn

                         nàng không đòi

                                   may áo mới

           Tôi mặc đồ quân nhân

                          đôi giày đinh

                                   bết bùn đất hành quân

           Nàng cười xinh xinh

                          bên anh chồng độc đáo

           Tôi ở đơn vị về

                          cưới nhau xong

                                     là đi

           Từ chiến khu xa....

                          nhớ về ái ngại

            Lấy chồng đời chiến chinh  

                          mấy người đi trở lại

            Nhỡ khi mình không về

                          thì thương

                                      người vợ chờ

                                                bé bỏng

                                                            chiều quê!

            ... 

            Chiều hành quân       

                         qua những đồi hoa sim

                                   những đồi hoa sim           

            Những đồi hoa sim dài

                         trong chiều

                                    không hết

            Màu tím hoa sim

                         tím

                                   chiều hoang

                                               biền biệt

              Nhìn áo rách vai

                              tôi hát trong màu hoa

                                    “áo anh sứt chỉ đường tà

                                                Vợ anh mất sớm

                                                              mẹ già chưa khâu “

            

Từ đây, sau Màu tím hoa sim nỗi đau riêng về hạnh phúc làm thay đổi tâm tính thi nhân. Chiến binh Hữu Loan hào hoa, phong trần, cưỡi ngựa, đeo gươm ra trận làm thơ hào sảng đổi chỗ cho một Hữu Loan thâm trầm, sâu nặng tình nghĩa con người. Hoa lúa, Yên Mô, Những làng đi qua... những bài thơ sau nỗi đau Màu tím hoa sim là những chấm phá tình quê, tình người kháng chiến...

              Trời hạn

              Giặc kéo qua đồng                         Đồng chiêm mà nước cạn

 

                         giày đinh

                                         đi trên lúa khoai

               Hoặc:

               Từng chiều

                              từng chiều hôm xuống

               Người lính hành quân 

                               trú mưa nhiều thôn xóm

               Có thôn xa

                               dăm mái tranh nghèo

               Có những thôn

                                giặc tàn sát hết

                Người sống không còn

                                để chôn người giặc giết

 

Hữu Loan đi qua chín năm kháng chiến với mười bài thơ. Và đó cũng là toàn bộ sự nghiệp sáng tác của ông. Sang hoà bình, sóng gió của những đổi thay đẫ đẩy ông sang hướng khác. Bước thăng trầm của ông bắt đầu từ cuối năm 1957. Một đêm Hà Nội nhiều sương muối, buốt giá, ông và nhạc sĩ Văn Cao trắng đêm dạo quanh hồ Thuyền Quang. Đến sáng thì Văn Cao tiễn ông ra bến xe để ông trở về quê Nga Sơn kiếm kế sinh nhai.

Bấy giờ Nga Sơn, Thanh Hoá quê ông nghèo lắm. Ông lại tay trắng dắt vợ con về, biết sống sao đây. Buổi chiều đầu tiên về làng Vân Hoàn, thay vì đi thăm hỏi láng giềng ông cắp be rượu lên núi đá đầu thôn. Bạn ông, người cùng thời, nhà thơ Trần Dần về Nam Định kiếm sống có câu thơ làm ông sởn gai ốc: Cuối phố có ngọn đèn thắt cổ / Hãy chỉ cho tôi chỗ nào tôi đổ bớt tôi đi. Trần Dần đổ nỗi buồn thi nhân thăm thẳm vào đâu, ông chưa hình dung ra, nhưng với ông, ở Nga Sơn này, ông chỉ còn biết đổ lên đá mà càm cắp vợ con qua cơn giáp hạt. Vốn có sức như trai lực điền, lại ở bước cùng, không thể ngồi ngâm thơ nhìn các con hết gạo, ông tưới rượu lên mặt đá mà thề sẽ bám đá để sống. Một chiếc xe cút kít. Một đôi quang sắt. Một xà beng. Một cuốc chim. Một chiếc đòn gánh bằng cả khúc tre ngâm. Ông nạy từng khối đá đưa lên chiếc xe cút kít thô sơ đem đi bán ở các lò thợ làm cối, làm thớt, làm kê chân cột và làm vật liệu xây dựng. Bán cả chục xe đá mới kiếm đủ ngày hai bữa cơm dưa muối cho đàn con. Đã thế, nhiều khi ế ẩm, đá chất đầy vườn, cả tháng không ai hỏi mua.

Một năm, hai năm, ba năm... Hữu Loan trở thành người thợ đá da đen như sừng, chân tay sần sẹo, tua tủa tóc rễ tre, đi đứng nói năng mạnh mẽ. Cặm cụi vật lộn với núi đá ông nuôi cả mười đứa con khôn lớn. Đến giờ cả mười đứa con đã có chín nên vợ nên chồng, sinh cho ông đàn cháu 37 đứa. Chỉ còn cậu út là chưa lập gia đình.

Hữu Loan thôi bám núi đá đã mười năm nay. Ông lui về nhà, trải chiếu trên thềm, ngày ngày ngồi uống rượu, ngắm rượu và ngóng đợi con cháu về thăm nhà, ngóng đợi những chuyển động đổi thay của làng xóm, của gia đình mình, của phận mình. Dằng dặc ngóng đợi, vận may cũng đã đôi lần gõ cửa nhà ông.

Bắt đầu là toà soạn báo Văn nghệ, cơ quan ông công tác gần bón mươi năm trước đưa đến tận nhà cho ông sổ hưu, với mức lương gần hai trăm ngàn đồng/tháng. Rồi chờ thêm vài năm nữa ông được xuất bản tập thơ đầu tiên trong đời, tập Màu tím hoa sim với mười bài thơ ông viết từ thời kháng chiến.

Lại đợi, ông được trời ban phúc, con trai út, chú bé ra đời trên lèn đá tốt nghiệp Đại học Kiến trúc Hà Nội. Cậu út kiến trúc sư đang tham gia quy hoạch Dự án bảo tồn khu di tích Bác Hồ ở Kim Liên, Nghệ An. Nghe tin con thành đạt ông cứ ngẩn ngơ tiếc nuối, giá còn sức như ngày nào, ông sẽ chở một xe cút kít đá ở cái núi đá từng nuôi sống gia đình ông về tận Kim Liên mà góp cho dự án bảo tồn một vài viên đá lát đường. Không biết có còn vận may nào đến nữa không, Hữu Loan vẫn chờ. Cái chỗ bao nhiêu năm ngồi uống rượu, ngắm rượu và chờ đợi, mồ hôi thấm lên tường hình một bờ vai. Hình bờ vai lún dần, lún dần xuống thấp, có dễ không lâu nữa ngả hẳn xuống gần mặt chiếu.    

              Tôi ghé sát tai ông:

               - Thưa bác, bác có làm thơ nữa không?

              Hữu Loan vẫn nhìn chén rượu:

              - Có. Nhưng toàn thơ đểu

              Bỗng nhiên ông cất tiếng cười, cười khà khà, mãn nguyện.

              - Bác thử đọc vài câu thơ đểu cho con nghe với nào?

              Hữu Loan ngồi im. Lát sau ông nói :

            - Đọc Đèo Cả thì đọc, chứ đọc thơ đểu phí rượu.

            Rồi ông như người bất ngờ vùng tỉnh dậy sau giấc ngủ dài, tinh nhanh, hoạt bát hẳn ra, giọng vang và còn sáng. Ông đọc hết Đèo Cả không hề vấp váp. Đọc xong, ông vơ lấy chén rượu, nhưng không uống, chỉ nhìn mà nước mắt rơi.

             Tôi có một chiều Hữu Loan.

 

 

HÀ ĐÌNH CẨN

 

 

             Chùm ảnh tang lễ cố nhà thơ Hữu Loan:

  

Bức trướng con cháu viếng nhà thơ Hữu Loan

(Khoác tấm áo rách vai/ Hát chiều hoang biền biệt

Sao con Tạo khó đùa/ Thăm thẳm đựng trời quê

Mãi ví vọng sắc màu huyền thoại/ Đẩy xe gầm bánh nặng

Đội trời nắng chang chang/Cảm thơ mưa rách dột

Mênh mang nghe gió núi/ Chốc ngậm cười sương khói hoàng hôn)

 

 

 

Hàng ngàn người dân tiễn đưa nhà thơ Màu tím hoa sim

về nơi an nghỉ cuối cùng tại quê nhà

 

 

 

Đội kèn đồng xứ đạo Nga Liên, Nga Sơn

tình nguyện sang phục vụ đám hiếu.

 

 

 

Phần mộ nhà thơ Hữu Loan

Xung quanh là đá núi Vân Hoàn và mây trắng

 

“Ông ra đi nhẹ nhõm và mãn nguyện như vừa chở xong một chuyến xe đá. Những người như ông không bao giờ coi cái chết là trút xong một món nợ đời mà chính là bước sang một thế giới khác, sinh sinh hóa hóa vô thường… Ông là nhà thơ hai lần đặc sắc. Đặc sắc ở hồn quê và đặc sặc trong khí phách… tài hoa rất mực mà cốt cách đến điều… Hữu Loan là sở hữu tinh thần hôm qua, hôm nay và mai sau của chúng ta… Hình ảnh thi nhân chở đá xây đời từ sự thật đầm đìa mồ hôi đã thành biểu tượng cao lộng”.

(Trích Điếu văn do nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đọc tại tang lễ nhà thơ Hữu Loan ngày 19/3/2010).

Chia sẻ:                   Gửi cho bạn bè
Mỗi độc giả cũng là một tác giả
(Mời bạn cho ý kiến, cảm nhận và lời bình sau khi đọc bài viết trên)
Họ và tên  *
Địa chỉ  *
Email  *
Điện thoại  *
Nội dung (bạn cần sử dụng font chữ Unicode, có dấu; ghi đầy đủ họ tên, địa chỉ, email, điện thoại,... Nếu thiếu các thông tin đó, có thể chúng tôi sẽ từ chối cho hiển thị
 
  Trần Thanh Dũng - ntthanhdung@yahoo.com - 0913133577 - Sóc Trăng  (Ngày 23/03/2010 01:59:26 PM)
VĨNH BIỆT NHÀ THƠ HỮU LOAN "Áo anh sứt chỉ đường tà..." Nhớ câu thơ cũ, sắc hoa chung tình Ông về với đất Ngọc Linh Tiễn Ông trời cũng như hình... màu sim. Trần Thanh Dũng
  ĐINH THƯỜNG - thuonghuyen858@yahoo.com.vn - 0912.242.998 - Hải Phòng  (Ngày 21/03/2010 09:18:05 PM)

VĨNH BIỆT NHÀ THƠ HỮU LOAN

Tôi ôm sắc tím hoa sim
Buồn thương lặng lẽ khóc tìm người xưa
Đời trai chinh chiến, gió mưa
Câu thơ, lệ đá tiễn đưa phận người.

Đinh Thường

  Vũ Thiên Kiều - vuthienkieu@gmail.com - 0986585388 - Kiên Giang  (Ngày 21/03/2010 07:35:24 AM)

KHÓC NHÀ THƠ HỮU LOAN

Kính viếng hương hồn ông!

 

Người về trụ với núi non

Thơ hay cũng cậy từng hòn đá câm

Đời dài giọt lệ âm thầm

Mồ hôi tuôn chảy đẫm mầm thơ loang

Nén lòng khúc ruột chiều hoang

Lo cơm chặt dạ - ấm choàng bầy con

Lá vàng đôi bóng rỗi son

Nhìn ly rượu đắng mỏi mòn đợi chi?

Hỡi ơi! Giờ đã biệt ly

Ngàn thu “ Màu tím... ” ai bì được đâu

Người đi chiều đội trắng màu

Lệ trần thương tiếc nghẹn câu tiễn Người!

Vũ Thiên Kiều

  Luân Hoán -  -  - Montreal - Canada  (Ngày 20/03/2010 06:26:08 PM)

Rừng sim tồn tại muôn đời

Riêng nụ thơm nhất vừa rời thế gian

Xác di cư về suối vàng

Danh người và nốt nhạc vàng thiên thu

Trời đêm không quá âm u

Nhưng nhìn bốn hướng gió mù mịt bay

Vẩn vơ hát nhẫm vài giây:

“Áo anh sứt...” (cả đường may) mất rồi !

(Montréal, 00 giờ 18, thứ sáu, đêm,+6 độ C, 19-3-2010,

sau khi biết tin nhà thơ Hũu Loan qua đời ngày 18-3)

Các bài khác: