Thứ bảy, 13/06/2026,


Vài nét về văn xuôi viết cho thiếu nhi qua các sáng tác của nhà văn Xuân Mai (19/01/2013) 
 

Trong khoảng thời gian từ 1975 đến nay, văn chương Vĩnh Phúc có thêm những bước phát triển mới. Đông hơn về số tác giả. Nhiều truyện ngắn và rồi tiểu thuyết – thể loại được xem là “cỗ trọng pháo” của văn học đã xuất hiện. Tuy nhiên, những sáng tác cho thiếu nhi thì không nhiều. Tác giả viết cho thiếu nhi “đếm trên đầu ngón tay”: Hoàng Tá (đã mất), với Nguyễn Công Dương, Trần Thịnh, và nhiều năm nay, đội ngũ viết cho thiếu nhi ở Vĩnh Phúc tuy có được bổ sung, nhưng rất ít ỏi. Các tác giả này đều thuộc chuyên ngành thơ: Nguyễn Ngọc Tung (Cánh diều tuổi thơ), Phùng Quang Ngọc (Trăng đầu tiên) và Chu Thanh Trung (vừa được kết nạp vào Hội VHNT Vĩnh Phúc). Đã vậy, các tác giả này cũng chỉ giành một phần không nhiều những sáng tác của mình viết cho thiếu nhi. Trong khi đó, mảng văn xuôi, hầu như vắng bóng. Viết cho các em, bằng văn xuôi, trước – nay, có lẽ chỉ một nhà văn Xuân Mai!

Một mình một ngựa*, Xuân Mai độc hành trên con đường sáng tạo văn chương vì trẻ em, cho trẻ em. Ông viết trong niềm đam mê làng,

Nhà văn Xuân Mai

trong khát vọng lưu giữ hình ảnh, chân dung làng: nơi ông luôn coi là cội nguồn của yêu thương. 7 đầu sách của ông viết cho thiếu nhi, gồm các tập truyện ngắn Trận địa đồi sim – Nhà xuất bản Kim Đồng 1988; Một buổi đi săn – Nhà xuất bản Kim Đồng 1993; Cỏ hoang – Nhà xuất bản Kim Đồng 1997; Giếng làng - Nhà xuất bản Trẻ 1997(tập truyện Giếng làng đoạt Giải khuyến khích sáng tác văn học thiếu nhi – Vì tương lai đất nước lần thứ II do Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh và Nhà xuất bản Trẻ phối hợp tổ chức vào 1/6/1997(cuộc thi này có 174 tác phẩm tham dự trên phạm vi cả nước, và chỉ có 11 tác phẩm được trao giải).Tiếp đến là tập truyện Con trai người đi xa - Nhà xuất bản Kim Đồng 2001; Chuyện cổ tích về bà - Nhà xuất bản Kim Đồng 2003;  “Quà của dòng sông” (Hội VHNT Vĩnh Phúc – 2005)

Người lớn và trẻ em đều là đối tượng để nhà văn Xuân Mai hướng tới qua trang viết của chính ông. Ở lĩnh vực nào, Xuân Mai cũng đã gặt hái thành công, nhưng bạn viết và bạn đọc đều nhận thấy: sáng tác của ông viết cho tuổi thơ có “sức nặng” hơn hẳn. Mặc dù, ai cũng biết, viết cho thiếu nhi không hề dễ dàng. Không giàu vốn sống, cảm xúc, không yêu trẻ, không có cho mình một “con mắt trẻ thơ” nhìn cuộc sống thật trong trẻo, hồn nhiên… sẽ khó mà viết cho thiếu nhi thành công. Nếu có cố, cũng chỉ là  những “sáng tác người lớn”, “mang danh” viết cho các em mà thôi.

Chân dung làng

7 đầu sách, với hơn 40 truyện ngắn (in trong 6 tập) và một truyện vừa (Con trai người đi xa) của Xuân Mai; có cái là truyện ngắn hoàn chỉnh, có cái mang dáng dấp một tản văn, có cái như một đoản khúc, một hoài niệm, một hồi ức…tất cả đều tâp trung xây dựng, hoàn chỉnh một chân dung làng. Hầu hết các tác phẩm viết cho tuổi thơ của Xuân Mai đều dẫn dắt người đọc trở về làng - cội nguồn thân thương của bao thế hệ người Việt Nam. Cội nguồn ấy luôn gắn bó với những tên đất tên người ruột thịt, với bao kỷ niệm buồn vui, cả ngọt ngào hay đắng đót của những tuổi thơ ở làng… dù lấm láp lam lũ nhưng thật bình yên. Cội nguồn ấy còn gắn với bao số phận, với những kiếp người quê nhọc nhằn vất vả; nhưng nồng ấm tình người mộc mạc, chất phác. Cội nguồn ấy, trong trang viết của nhà văn Xuân Mai, là một làng quê rất cụ thể có tên: làng Ao Gỗ (còn gọi là làng Bình Lạc, làng Mộc Cụm) nay là tổ dân phố Bình Lạc, TT Tam Sơn, huyện Sông Lô.

Chân dung làng được phác thảo những nét đầu tiên bởi tâm thức nhân vật, hay cũng chính là tâm thức nhà văn “Ao Gỗ là tên gọi của làng tôi” - (như lời kể của nhân vật, khi mở đầu truyện ngắn) Làng Ao Gỗ – quê hương nhà văn là một ngôi làng cổ. Làng có tự bao giờ, người cao tuổi ở làng cũng không thể biết. Làng không lớn. Nhưng bởi đất lành, nên “người dân nhiều nơi mới rủ nhau về, đánh gốc, bốc chà, phát nương, làm rẫy, sinh cơ, lập nghiệp…” để “từ đó mà thành bản, thành làng!”. Sự tích về làng còn gắn với một câu chuyện bi thương thủa xửa xưa (Sự tích núi Hình Nhân). Ngay cái tên làng cũng là một câu chuyện thú vị: thủa trước, làng dựng đình. Đình to lắm, mấy năm mới làm xong. Gỗ ngâm để làm đình chật đầy cái ao to nơi cửa đình. Ao ngâm gỗ nên gọi là Ao Gỗ, gọi mãi mà thành tên làng! Làng Ao Gỗ nằm gần chân núi Sáng, không có bến nước, không có cây đa. Bù lại, làng có một cây gạo “to hơn tất cả các loại cây có trong làng”. Đó là “cái mốc” để “người đi xa, mỗi lần về quê, ai cũng nhận ngay ra làng mình đầu tiên là nhờ cây gạo ấy”.

Ngôi làng nhỏ, nhưng qua trang viết của nhà văn, bạn đọc được tiếp cận cả một thế giới những câu chuyện muôn đời về làng quê. Những câu chuyện bình dị, luôn gợi nỗi thân thương khôn nguôi về làng. Nơi ấy có “Đình làng”; “Chợ Then”; “phố nhỏ bên sông”; “Rừng cò Chằm Sai”; ao làng, rồi còn cả một “dòng sông Cửa Ngòi”… Dòng sông mà trong mắt những đứa trẻ của làng luôn ăm ắp những điều huyền diệu. Sông tuy nhỏ, nhưng chỉ cần nhìn màu nước sông, người ta đã nhận ra những sắc màu của bốn mùa thiên nhiên luan chuyển với những êm đềm ngọt ngào hay sục sôi dữ dội… Riêng với Giếng làng, nhà văn cho bạn đọc thấy đó còn là một cổ tích, khiến người làng mãi tự hào, rằng: Giếng làng là do ông tổ, cũng là ông vua đầu tiên của nước ta: Vua Hùng - trong một lần đi săn tới làng, đã nghỉ chân, cắm trại, và cho người đào nên. Giếng cho dân làng nguồn nước trong lành mát ngọt, giếng là nơi dân làng gặp gỡ, thăm hỏi nhau trong lúc gánh nước ăn hay giặt giũ đêm trăng; giếng là chốn trai gái làng hẹn hò; đặc biệt, cũng tại giếng này, thời kháng chiến chống thực dân Pháp, đã có anh bộ đội anh dũng chiến đấu, rồi hy sinh để bảo vệ kháng chiến, bảo vệ dân làng…

Theo chân người viết, bạn đọc sẽ được tham dự những đêm soi ếch, những buổi đặt nắn, đánh lờ cá rô, những mùa tát cá đẫm mùi bùn, mùi cá tép, cái mùi mà “không phải tuổi thơ ai cũng có”. Rồi ta sẽ được thưởng thức Tết cơm mới, biết đến Hương cây rơm; đến vị rau má gắn liền với những ký ức để đời của cái thời “đói quay đói quắt”; biết đến nỗi cực nhọc “đi núi nằm” sơn tràng bòn kiếm cái ăn cầm hơi qua ngày vào buổi “ngoài đồng vàng mơ, trong nhà mờ mắt” … của bao vùng quê nghèo Việt Nam hôm qua.

Chân dung làng còn hiện hữu sắc nét qua những ký ức êm đềm của tuổi thơ: một buổi đi săn, tắm mưa, quê ngoại, tháng Mười, một mùa phá đỗ gợi nhớ câu ca “trâu bò được buổi phá đỗ…”, một trận đánh trận giả, một buổi bắt ốc nơi đồng chằm, một buổi gặt đầu tiên của một cô bé. Cô được theo mẹ ra đồng, vụng về đưa liềm tập cắt những bông lúa chín đầu tiên trong đời. Nhẹ nhàng, thủ thỉ, Xuân Mai giúp tuổi thơ Việt, giúp chính mỗi người lớn chúng ta cảm – nhận quê hương.

Chân dung làng trong sáng tác cho thiếu nhi của Xuân Mai còn được lưu giữ bởi rất nhiều mùi hương vị và âm thanh: hương đồng hăng hoải buổi gặt chiêm, cấy mùa, hương cây rơm, vị rau má; là tiếng cò tao tác rừng chiều khi bị con người phá tổ, là tiếng ếch như chỉ còn vẳng lên từ ký ức bởi sự huỷ diệt thiên nhiên của con người.

Nhiều địa danh trong truyện ngắn viết cho tuổi thơ của Xuân Mai đều là địa danh có thật ngoài đời, chân thật, gần gụi như máu thịt.

 Yêu quê, nên nhà văn dường như đã đưa nguyên vẹn hình dáng, tên gọi làng quê vào trang viết. Hay đó cũng là cách ông lưu giữ lại cùng mai sau về những gì đã hiện hữu nơi làng quê mình? Nhất là khi một cuộc sống với guồng quay gấp gáp, dữ dội như hôm nay chúng ta đang sống luôn sục sôi, cuộn chảy, kéo theo, sẵn sàng cuốn đi tất cả. Nhanh tới mức nhiều khi con người dường như bị nó lôi tuột đi, hút xoáy vào, xoáy vào mà không thể tự dừng lại, tự thoát ra…

Có một sự thực đang hiển hiện: Những tên xóm tên thôn tên làng mộc mạc, xưa xa như cổ tích của làng Việt dần bị mai một, bị đánh mất, xoá mất, thay vào là những khu hành chính, tổ dân phố được đánh số khô khốc, cụt lủn theo thứ tự; như ai đó ví là “trại lính”… Thế thì, chả mấy nỗi mà không còn những cái tên của một thưở một thời. Trong khi, đó chính là một phần hồn vía dân tộc. Làm cách nào để giữ lại cho mai sau? Nhà văn Xuân Mai làm theo cách của ông: ấy là, đưa chúng vào trang viết, cho ai? Cho tuổi thơ, để mai sau, các em còn biết được, nơi em và gia đình đang sống, tự thời cụ kỵ ông bà… có tên là gì, sự tích thế nào, đã ra đời, tồn tại ra sao, có những thăng trầm buồn vui hay dở gì… Những điều ấy, cần lắm chứ. Bởi, ít nhất, cũng giúp con người biết về nơi gọi là nguồn cội, là quê hương của mình mà biết sống sao cho xứng đáng. Để rồi bạn đọc, hẳn cũng đồng ý với triết lý của nhân vật trong truyện Làng quê thương nhớ, rằng “Chỉ nơi nào có mộ những người ruột thịt của mình thì đó mới là quê hương con ạ. Ở đời thật buồn cho ai vì lý do nào đó mà quên mất quê hương, hay không có một vùng quê để mà thương nhớ”

“Làng Ao Gỗ” của Xuân Mai giờ là một tổ dân phố của thị trấn huyện lỵ Sông Lô. Làng lên phố. Ít nhiều đồng chằm ruộng dộc, nơi mồ hôi người làng bao đời đầm đầm đổ xuống những buổi gặt chiêm, buổi cấy mùa… giờ đang lùi vào quá khứ, nhưỡng chỗ cho công sở, phố xá. nhưng cái giếng làng huyền thoại ấy giờ cũng đã không còn. Những cánh đồng cầu Giát, cầu Dài, Đề Lương…nơi bao thế hệ người  làng Ao Gỗ vẫn lặn lội cấy gặt, vẫn be bờ tát vét kiếm con cá con tép…đang dần bị san lấp để xây công sở, cơ quan, bến xe bus… Vẫn biết, trong vũ trụ này, đâu có điều gì là tồn tại mãi mãi, mà sao mỗi cuộc đổi dời như vậy, cứ thấy lòng hẫng hụt mất mát vô cùng. Như cảm giác của nhân vật trong truyện mỗi lần về quê, đi qua cánh đồng Cầu Giát, nhớ về buổi tát vét thời thơ dại hôm nao, vẫn thấy vẹn nguyên cảm giác nhói buốt nơi ngón tay bị ngạnh con cá trê đánh trúng hôm nào, giờ bỗng tấy nhức, tận tam can.

Bằng nhạy cảm đặc biết của một người cầm bút, nhà văn Xuân Mai đã sớm nhận thấy những mất mát không thể tìm lại đó. Nên từ cách nay nhiều năm, ông đã đưa làng vào trang viết, bằng cả tình yêu, sự nâng niu, trìu mến đặc biệt!

Thân phận con người

Trong những tác phẩm của Xuân Mai, làng Ao Gỗ hiện lên thật sinh động còn bởi nhà văn đã dành tình cảm yêu thương máu thịt của mình để viết về con người. Phần lớn các nhân vật của truyện ngắn Xuân Mai viết cho các em đều có nguyên mẫu ngoài đời. Họ không hề xa lạ với chúng ta. Họ là người làng của những ai sinh ra lớn lên từ làng. Họ, những người nông dân cả cuộc đời lam lũ, quanh năm suốt tháng có lẽ chẳng đi đâu ra khỏi làng. Nhưng họ chính là cuộc sống này, và thân phận của họ, qua sáng tạo của nhà văn Xuân Mai, đã làm nên tác phẩm, làm nên những trang viết gây xúc động lòng người. Đọc truyện của Xuân Mai, bạn đọc gặp một ông Thủ Lộ có tài làm diều, thả diều mê hoặc lòng người, rồi cô hàng xén mau mắn; ông lão nặn tò he nơi cổng chợ Then, rồi bố tôi, mẹ tôi, bà nội, ông nội, bà vãi, ông vãi, bác tôi bá tôi, chị tôi, em tôi, những thằng bạn trong “hội tát vét” tóc cháy nắng dãi dầu… cho đến cả những con vật thân quen: con Miu, chú ngựa đá trên gò Ngọc Nhớ, con gà mái hoa mơ… Có những nhân vật được miêu tả cụ thể, kỹ lưỡng từ ngoại hình, tính cách đến số phận, cả cái chết của họ… Lại có những nhân vật, được nhà văn “điểm nhanh” bằng một câu viết mà vẫn hiển hiện rõ nét thân phận: Ông Chấn hay đi cúng nên gọi là Đồng Chấn, Bà cụ Đức chuyên bán thuốc cam nên được gọi là bà Lang Đức.

Bao nhiêu thân phận là bấy nhiêu những trang đời rất bình dị. Trước vô cùng vô tận của không gian và thời gian, sự bình dị ấy âm thầm góp phần làm nên những giá trị của cuộc sống.

 Văn hoá làng Việt

Trong những sáng tác cho thiếu nhi, nhà văn Xuân Mai còn giúp bạn đọc thêm hiểu, thêm yêu hơn một văn hoá làng Việt Nam mộc mạc, đặc sắc qua những tục lệ rất đặc trưng của một làng quê trung du, cũng là nét quen gặp ở nhiều làng quê trung du Bắc Bộ. Ấy là tết cơm mới, tết giết sâu bọ, tục khảo cây mít, lệ nấu chè kho cúng thành hoàng làng. Nhân vật trong Tết cơm mới kể: Mẹ tôi là người rất chăm lo đến ngày lễ, tết. Tháng ba cụ làm bánh trôi, bánh chay. Tháng năm cụ bắt chúng tôi nhuộm móng tay, móng chân. Sáng ngủ dậy phải ăn hoa quả để giết sâu bọ và không ngồi ở bậu cửa để tránh mọc mụn nhọt.

Một cách khéo léo, nhà văn chỉ cho trẻ em biết về những tục lệ truyền thống của cha ông, qua đó, biết yêu kính, biết ơn, tri ân tổ tiên ông bà cha mẹ đã sinh ra ta, đã lam làm tạo dựng cho ta cuộc sống: Tháng bảy cụ mua vàng mã đốt gửi người thân đã mất . Tháng tám cụ mua bưởi, hồng và giục anh em tôi làm đèn kéo quân, đèn ông sao cho các em. Cái gì cũng thế, từ quả na, quả chuối trong vườn chín bói đến đồng quà tấm bánh ai đó biếu bao giờ cụ cũng đặt lên bàn thờ giục cụ ông thắp hương xong các con mới được ăn. Với Tết cơm mới, mẹ tôi lo, chuẩn bị còn cẩn thận, chu đáo hơn. Và sự chu đáo, thành tâm của bà mẹ đã được Xuân Mai mô tả thật tỉ mỉ, từ việc mẹ nuôi, chăm chút đặc biệt một chú gà trống có cái mào đỏ màu cờ, đôi chân vàng như màu hạt ngô già, mới tập gáy nhưng chưa áp mái, hằng ngày chú gà này được ăn ngô, thóc, được uống nước mưa chứa trong một cái chum đặt dưới gốc cây cau. Tiếp đến, mẹ xay, giã một cối gạo nếp cái hoa vàng, một cối gạo tẻ tám thơm, hai thứ gạo mà chỉ mới là gạo thôi đã có mùi thơm lan toả ra tận ngoài ngõ …Không hiểu sao, đọc những trang viết trong “Tết cơm mới”, đến phần Xuân Mai mô tả cảnh người cha trịnh trọng làm lễ khấn tổ tiên, và cái cách ông đưa gần như nguyên vẹn bài khấn cúng tổ tiên vào trang viết, tôi bỗng thấy lòng mình rưng rưng một cảm giác thật khó tả: Cỗ bàn, trầu, nước… được bày biện đầy đủ lên ban thờ; bố tôi mới ra chum múc nước rửa mặt. Ông cụ lại thay quần áo mới, ăn mặc rất chỉnh tề rồi mới đi đến bên bàn thờ, thắp hương, ra rượu. Nhìn bố quỳ trên phản, hai tay chắp vào nhau, giơ ngang trán, miệng lẩm nhẩm khấn, tôi cảm thấy có một cái gì đó rất thành kính, rất thiêng liêng. Đọc đoạn văn, thấy điều gì như vừa trỗi dậy, tha thiết nhắn nhủ… Điều gì vậy, hay đó chính là những tiếng gọi nơi thẳm sâu cội nguồn vang vọng? Khiến ta thấy như được sống lại tuổi thơ, đang cùng mẹ cha anh em quây quần bên mâm cơm mới dù đạm bạc mà đầm ấm thủa nào. Điều đơn giản vậy, sao bây giờ như là cổ tích khiến tim ta xa xót.

Tính giáo dục, tính thời sự, tính dự báo của người cầm bút

Đọc xong, gấp lại trang cuối mỗi tập truyện của Xuân Mai viết cho các em, đều nhận thấy một điều: Ông viết Trận địa đồi sim; Quà của dòng sông; Con trai người đi xa, Giếng làng; Quê ngoại, Tháng Mười, Điều day dứt…đâu chỉ dành tặng riêng con trẻ. Bằng giọng văn hiền lành, nhẹ nhàng, thủ thỉ, trang viết cho thiếu nhi của Xuân Mai đang nói với tất cả chúng ta – những ai đang là người lớn nhiều điều về lẽ sống ở đời, về những gì rất đỗi bình dị mà cũng vô cùng quý giá, như bối cảnh thanh bình mà truyện ngắn Buổi tối bình thường, Ông cháu Mít - su… Phú…  đã mô tả.

Qua trang viết, nhà văn muốn gửi đến các em nhiều thông điệp: về tình yêu thương, lòng khoan dung giữa con người với nhau, với cả môi trường xung quanh (Một mình, Rừng cò ở Chằm Sai, Cái chết của con Miu), riêng với Chuyện về loài kiến, bạn đọc nhỏ tuổi sẽ có được một “bài học” lý thú từ loài kiến về tình thân ái, biết đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau để cùng sinh tồn; biết yêu lao động và trân quý thành quả lao động (Buổi gặt đầu tiên)

Xen kẽ với những hồi ức đẹp về quê hương thời thơ ấu, những truyện ngắn viết cho thiếu nhi của Xuân Mai còn gửi đến bạn đọc những day dứt. Ấy là việc vì sao một người sống hiền lành như ông Thủ Lộ cũng bị người khác ghen ghét tư thù? Tại sao ông già nặn tò he khéo tay thế, tốt bụng thế mà ông trời lại bắt phải chết khổ? Quyền được học hành, được chăm sóc, yêu thương, được vui chơi, phát triển, vv… là những quyền cơ bản của trẻ em – thế hệ tương lai của dân tộc, đất nước, nhân loại, vậy nhưng có bao nhiêu em nhỏ như bé Khoa trong truyện ngắn Đi học, Khoa ơi! phải bỏ học, không được đi học, thậm chí bị lạm dụng, lợi dụng, bức hại hằng ngày? Xã hội hôm nay từng nhiều lần bất bình đến căm phẫn khi chỗ này chỗ kia, những thân phân trẻ em bị bạc đãi, bị vứt bỏ, đánh đập, hành hạ, mua bán, lạm dụng… nhằm phục vụ cho mục đích xấu xa của kẻ ác. Bé Khoa trong truyện ngắn đã được đi học, nhưng vẫn còn bao trẻ em khác ngoài đời đang chịu những cay cực, nhọc nhằn mưu sinh, không được đến trường, không được yêu thương chăm sóc? Viết về vấn đề này, nhà văn Xuân Mai đã góp thêm một tiếng chuông cảnh tỉnh: vì tương lai, hãy thiết thực quan tâm, yêu thương, chăm sóc trẻ em.

Dự cảm về môi trường sống của con người đang bị chính con người huỷ hoại, khi ngắm dãy núi Sáng “sau bao nhiêu năm bị con người tàn phá, khai thác giờ nhìn trọc lốc như đầu ông sư và tiếng chim hót thì thưa vắng đi rất nhiều. Riêng tiếng “bắt tép cho ta” của chim ca ca thì hầu như không còn nữa” nhân vật trong câu chuyện của Xuân Mai đã tự hỏi mình: Liệu có phải buổi đi bẫy ca ca đầy vẻ thích thú của bố con tôi từ mấy chục năm trước đây  đã góp phần làm vắng bóng ca ca ? Tôi bâng khuâng hỏi thế. Và, câu hỏi ấy dần thành điều day dứt mãi trong tôi”. Câu hỏi ấy, không chỉ dành cho trẻ em, mà cho tất cả chúng ta. Vấn đề môi trường, hơn bao giờ hết, đang là vấn đề nóng khiến toàn cầu lo âu. Những hậu hoạ từ biến đổi khí hậu đang khiến con người phải trả giá. Vậy thì sự linh cảm của nhân vật trong truyện ngắn viết cho các em của Xuân Mai có phải là thông điệp cảnh báo con người từ cách nay cả chục năm trời? Đến lúc này, điều dự cảm ấy vẫn đang vẹn nguyên tính thời sự?

Tính giáo dục, tính thời sự, chức năng dự báo, nếu có, của văn học, chính là đã được bắt đầu từ những trang viết giản dị, trong trẻo mà trĩu nặng suy tư như thế của Xuân Mai.

Để cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn, có biết bao nhiêu điều còn khiến mỗi người chúng ta phải day dứt suy nghĩ và tìm hướng hành động. Hy vọng, những trang viết dành cho các em của nhà văn Xuân Mai sẽ là hành trang đi cùng tuổi thơ, đi cùng thời gian để lưu giữ lâu dài trong lòng dân tộc thêm những hình ảnh đẹp về làng quê của chúng ta .

                              Thanh Vĩnh (BTV Tạp chí Văn nghệ Vĩnh Phúc)  

* Chữ của nhà văn Ma Văn Kháng                                            

Chia sẻ:                   Gửi cho bạn bè
Mỗi độc giả cũng là một tác giả
(Mời bạn cho ý kiến, cảm nhận và lời bình sau khi đọc bài viết trên)
Họ và tên  *
Địa chỉ  *
Email  *
Điện thoại  *
Nội dung (bạn cần sử dụng font chữ Unicode, có dấu; ghi đầy đủ họ tên, địa chỉ, email, điện thoại,... Nếu thiếu các thông tin đó, có thể chúng tôi sẽ từ chối cho hiển thị
 
Các bài khác: