(Đọc bài thơ Lịch sử nước ta của Hồ Chí Minh)
Dân ta phải biết sử ta.
Cho tường gốc tích nước nhà Việt
Đọc những câu thơ mở đầu của bài thơ Lịch sử nước ta của Hồ Chí Minh khiến ta thấm thía một cách sâu sắc lời dạy của Bác. Bài thơ đúc kết toàn bộ lịch sử nước ta từ năm 2979 trước công nguyên đến năm 1942, với 208 câu thơ lục bát. Một kiểu đúc kết vừa tường minh, vừa hình tượng, vừa ngắn gọn, súc tích, dễ nhớ qua vần thơ lục bát mềm mại và uyển chuyển.
Với một bài thơ dài, liệt kê nhiều sự kiện lịch sử quan trọng, nên đọc như thế nào? Trước hết, dựa vào dấu hiệu hình thức: Bố cục chia làm 9 phần, đoạn ngắn nhất 4 câu, đoạn dài nhất 38 câu; sau đó dựa vào dấu hiệu nội dung: Mỗi phần viết về một chặng đường lịch sử.
Đoạn 1 gồm bốn câu thơ, khái quát quan điểm của Hồ Chí Minh: Dân ta phải giỏi sử ta – quan điểm này thấm sâu trong tâm hồn vị Chủ tịch kính yêu. Người nắm vững những kiến thức lịch sử một cách tường tận qua sự dạy bảo của cụ Nguyễn Sinh Sắc từ thuở ấu thơ; nên giờ đây viết lại lịch sử dân tộc không bằng những câu chữ khô khan mà bằng thể thơ lục bát - một thể loại trữ tình chuyển tải một nội dung tự sự.
Đoạn 2, gồm 34 câu kể về lịch sử nước ta từ “Hồng Bàng là tổ nước ta” đến “Ông Mai Hắc Đế đứng ra đánh Tàu”. Hồ Chí Minh liệt kê những tấm gương anh hùng chống giặc cứu nước và ở mỗi hình ảnh liệt kê đều kèm lời bình luận. Ví dụ: Nhắc đến Phù Đổng – bình luôn “Thiếu nhi ta rất vẻ vang”; hoặc khi nhắc đến Hai Bà Trưng, Triệu Ẩu – nhận xét
Phụ nữ ta chẳng tầm thường
Đánh đông, dẹp bắc làm gương để đời
rồi kết lại một giai đoạn lịch sử vừa có số liệu thống kê vừa đề cao tinh thần đoàn kết của dân tộc:
Kể gần sáu trăm năm trời
Ta không đoàn kết bị người tính thôn…
Khi chuyển mạch trong đoạn, tác giả dùng kiểu câu cảm thán, vừa khẳng định vừa ngợi ca “Anh hùng thay! Ông Lý Bôn”; hoặc khi kể về anh hùng Mai Thúc Loan xuất thân từ nông dân, tác giả ngợi ca
Thương dân cực khổ xót xa
Ông Mai Hắc Đế đứng ra đánh Tàu
Mỗi chi tiết, mỗi sự kiện, mỗi nhân vật lịch sử đều được Hồ Chí Minh bình luận, đánh giá, ngợi ca, khái quát; hình tượng thơ thì dồi dào sức sống và giàu cảm xúc. Ví dụ: bàn về thất bại của Mai Thúc Loan tác giả cho rằng vì “Dân ta đoàn kết chưa sâu”; hoặc là Tàu xâm chiếm ta “Vì Lý Phật Tử ngu hèn”…
22 câu tiếp theo của đoạn 3 kể chuyện từ khi Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, chấm dứt nghìn năm Bắc thuộc, đến chuyện
Họ Lý truyền được chín đời
Hai trăm mười sáu năm giời thì tan
Một thời kì lịch sử với các đời vua “Đinh – Lê – Lý” với bao biến động mà chỉ kể trong 22 câu hàm súc mà cũng dễ nhớ. Cách tổng kết vừa chính xác vừa hình tượng. Họ Đinh 2 đời, họ Lê 2 đời, và họ Lý đến 9 đời. Tác giả phân tích hoàn cảnh lịch sử của mỗi triều vua một cách ngắn gọn, khúc chiết. Kết lại giai đoạn này là những câu thơ ngợi ca công lao của các vua đời Lý “Mở mang văn hoá nước nhà”…“Đuổi quân nhà Tống, đánh quân Chiêm Thành”…
Riêng nhà Trần tác giả dành đến 28 câu thơ để ngợi ca, với giọng thơ hào sảng
Nhà Trần thống trị giang san
Trị yên trong nước, đánh tan địch ngoài
Dù quân giặc
Quân Nguyên binh giỏi tướng tài
Đánh đâu được đấy dông dài Á, Âu
mà vị tướng tài Trần Hưng Đạo vẫn “hai lần đại phá Nguyên binh”
Quốc Toản là kẻ có tài…
Mấy lần đánh thắng quân Nguyên
...
Đời Trần văn giỏi võ nhiều
Ngoài dân thịnh vượng, trong triều hiền minh
Mười hai đời được hiển vinh
Đến Trần Phế Đế nước mình suy vi
…
Giọng thơ, nhịp thơ, hình ảnh thơ gợi lên một “hào khí Đông A”, một tinh thần “đồng quang hoà trần” - một tâm thức văn hoá rực rỡ của lịch sử dân tộc thời kì này.
Từ Hồ Quý Ly đến đời vua Lê Thánh Tông, tác giả chỉ viết 18 câu mà khái quát được chuyện
Họ Hồ chính sự phiền hà
Để trong nước lòng dân oán hận
như lời Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo; đến chuyện kháng chiến chống giặc Minh 10 năm oanh liệt và kết lại bằng hình ảnh
Vua hiền có Lê Thánh Tông
Mở mang bờ cõi đã khôn lại lành
Kết cấu của tác phẩm vừa linh hoạt, vừa sáng tạo. Giai đoạn lịch sử nào tuôn trào cảm xúc ngợi ca, dòng thơ chảy trôi như không hạn định về số câu. Giai đoạn lịch sử nào có nhiều biến động do “thù trong giặc ngoài” thì chỉ nhắc lại những dấu mốc lịch sử kèm theo lời nhận xét, đánh giá. Với những cuộc nội chiến liên miên trong 3 thế kỷ từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII tác giả chỉ viết ngắn gọn trong 10 câu, rồi kết luận
Nguyễn
Thấy dân cực khổ mà đau đớn lòng
Kiểu viết ngắn gọn, súc tích mà thể hiện quan điểm của người viết: Vừa yêu nước thương dân vừa lên án sự suy vi của nhà nước phong kiến.
Đoạn thơ dài nhất trong bài thơ là đoạn 7, dài đến 38 câu vừa ngợi ca người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ, vừa phân tích nguyên nhân nước Việt rơi vào tay giặc Pháp. Đến đoạn này người đọc gặp lại giọng thơ hào sảng ở đoạn 4 của bài thơ. Nếu ở đoạn 4 ngợi ca nhà Trần thắng quân Nguyên Mông với 28 câu thơ dạt dào như biển Đông, thì đến đoạn thơ này tác giả viết về Nguyễn Huệ thật ngắn gọn mà đầy đủ
Nguyễn Huệ là bậc phi thường
Mấy lần đánh đuổi quân Xiêm giặc Tàu
Và
Nhà Lê cũng bị mất quyền
Ba trăm sáu chục năm truyền trị vương
…
Với những trang sử hào hùng được Ngô Gia văn phái viết rất kỹ trong Hoàng Lê nhất thống chí thì nay Hồ Chí Minh không lặp lại những gì mà thể loại tiểu thuyết chương hồi có quyền hư cấu, nhà thơ chỉ viết ngắn mà rõ, ít câu mà nhiều ý – đúng là “ý tại ngôn ngoại”. Nhằm lý giải sự tồn tại ngắn ngủi của nhà Nguyễn Tây Sơn, nhà thơ không phân tích nguyên nhân từ nội bộ anh em nhà họ “Nguyễn”; mà bắt đầu từ Gia Long và kết luận ngắn gọn:
Ngày nay gấm vóc giang sơn
Bị vua nhà Nguyễn đem hàng cho Tây!
Để khẳng định truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc ta, Hồ Chí Minh đã liệt kê những tấm gương anh hùng chống Pháp từ Hoàng Diệu, Phan Đình Phùng đến Hoàng Hoa Thám; liệt kê các địa danh lừng danh chống Pháp như Yên Bái, Nghệ An, Nam Kỳ, Bắc Sơn…với 22 câu thơ cùng nhịp thơ biến ảo, mạnh mẽ, tự tin...
Bài thơ kết lại bằng đoạn thơ dài 32 câu vừa khẳng định lịch sử vẻ vang anh hùng của dân tộc vừa khẳng định mỗi con dân đất Việt đều là con Rồng cháu Tiên, đoàn kết một lòng, đồng sức, đồng lòng đánh giặc đến cùng
Mai sau sự nghiệp hoàn thành
Rõ tên nước Việt, rạng danh Lạc Hồng
Dân ta xin nhớ chữ đồng
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh
Những câu kết của bài thơ vừa là lời kêu gọi, vừa là lời thúc giục, vừa là niềm tin của vị lãnh đạo thiên tài với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta. Bài thơ ra đời vào năm 1942 là thời điểm dân tộc ta rất cần có niềm tin để chống Pháp đến cùng, niềm tin vào thắng lợi, niềm tin vào tương lai.
TS. Hoàng Thị Thu Thúy
(Nguồn: thuathienhue.edu.vn)