1. Lần theo dấu vết tục ngữ ca dao
Khi có ý đinh viết một số bài thơ lục bát vần trắc thì có một vài thi hữu cho rằng vô phương. Vì cả một kho tàng tục ngữ ca dao đồ xộ, cũng chỉ xen vào những nét điểm xuyết ít ỏi! Mà có đi chăng nữa thì thường gieo vần trắc ở hai câu mở đầu, còn những câu sau lại trở về cách gieo vần khuôn định của vần bằng. Vả lại những quy ước cấu trúc về từ ngữ để diễn tả tình cảm, trang thái, sự vật… trong tiếng Việt cũng đa số nghiêng về vần bằng thì làm một bài thơ vần trắc là một điều không tưởng!
Nhưng cũng có người lại khuyến khích vì chắc chắn: ”Nơi vùng đất ít người đặt chân đến sẽ có nhiều hoa thơm cỏ lạ”. Và khi nhìn vào kho tàng tục ngữ ca dao thì người viết những dòng tản mạn nhỏ bé này nghiệm ra một điều: “Lục bát trong dân gian rất phóng khoáng và uyển chuyển”. Dĩ nhiên “những hạt sương lấp lánh ca dao tục ngữ” đã được phổ quát và lưu truyền qua bao thế hệ, chắt lọc và đã biến thành những hạt kim cương thuần khiết và lấp lánh quyến rũ.
Để dẫn chứng tính cách phóng khoáng và uyển chuyển của ca dao tục ngữ xin lấy ví dụ sau:
Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước sang vườn cà ta hái nụ tẩm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em đi lấy chồng anh tiếc lắm thay…
Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh không hỏi những ngày còn không
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thủa nào ra
Như vậy ngoài việc gieo vần biến thể thì cụm từ: “ nụ tầm xuân” được lập lại 2 lần vẫn không thấy chối, mà cách phá luật của câu 7 từ cùng vần trắc “biếc” chẳng ăn nhập gì với vời từ “xuân”. Ở câu tám trên. Có phải chăng trường hợp này có thể hiểu ngầm là dân gian lấy chữ xuân (cước vận) gieo với chữ xuân (yêu vận) ở vị trí thử 3 câu sáu dưới, và cụm từ “nụ tầm xuân” chỉ được tính bằng hai đơn vị từ; để rồi đế đến cuối bài thì chuyện lập lại cụm từ “cá cắn câu” rất tự nhiên thoải mái, còn cách gieo vần thì rất tự do, đoạn kết lại là một cặp song thất.
Nhưng khi đọc bài ca dao này thì mấy ai chẳng thấy xao xuyến, lâng lâng và tấm tắc khen: tuyệt! Thực ra đây là cách phân tích chẻ sợi tóc ra làm tư, làm tám! chẳng qua chỉ là để dễ soi rọi và dẫn chứng; dĩ nhiên có sự cường điệu và thái quá! Người viết chỉ muốn chứng minh rằng: “Tục ngữ ca dao quả rất uyển chuyển và phóng khoáng”.
2. Nắn dây đàn bầu trong cấu trúc thanh âm tiếng Việt
Bỗng có một lúc, người viết nghĩ đến cây đàn bầu. Quả là cây đàn đốc đáo, chỉ với một dây, một cần, một bầu… Rất nhe nhàng và mềm mại, người nghệ sĩ đã trút được nỗi lòng mình qua những tấu khúc thật mượt mà, duyên dáng và đầy cảm xúc. Tiếng đàn như khóc như than ai oán, tiếng đàn như mịt mùng xa xăm xao xuyến, tiếng đàn cũng để lại quyến luyến ray rứt không cùng… Và ngôn ngữ Việt được ký tự bằng mẫu tự Latinh thành chữ Quốc ngữ với năm thanh dấu bổng trầm đã chứng minh rằng tiếng nói của dân tộc Việt chứa sẵn âm thanh. Vì thế có rất nhiều người ngoại quốc khi nghe người Việt nói thì cho rằng họ đang hát.

Với thiên nhiên ưu đãi, bên núi non biển cả sông nước hữu tình. Là một dân tộc có chiều dài lịch sử lâu đời với bao thăng trầm của vận nước. Sẵn mang đặc tính của nền văn minh định canh lúa nước: hiền hòa mà hiếu khách, dũng mãnh và kiên cường, chịu đựng mà dung hoà những cái hay cái đẹp của bao nền văn hóa từ Đông sang Tây, nhưng vẫn giữ được bản sắc Việt tính của mình thì thực là một điều kỳ diệu.
3. Lời đề nghị dựa từ cấu trúc niêm luật thơ Lục bát truyền thống
Khi quan sát cấu trúc của thể thơ lục bát truyền thống chúng ta thấy:
· Chỉ với với hai thanh Phù bình thanh (không dấu) và Trầm bình thanh (dầu huyền) đã làm cho câu bát ở lục bát vần bằng thật uyển chuyển và là một quy luật tuy đơn giản nhưng không thể bỏ sót được. Và hầu như từ những tác giả dân giã nhất đến các nhà thơ phóng khoáng nhất cũng không thể tự ý phá bỏ quy luật này. Nhưng cũng may mắn là hai thanh này tuy cùng là vần bằng, nhưng nếu nói về âm vực thì có thể định chuẩn thật rạch ròi.
· Nếu ta thử quy ước trầm bình thanh là nốt đô thì phù bình thanh là nốt rê ở khuông nhạc (khóa son). Ta thấy từ nốt đô đến rê cách nhau một 1 quãng âm.
· Dựa theo bảng tổng qui về thanh bằng thanh trắc phổ biến của một số tác giả lập:
|
Thanh |
Tên của thanh |
Dấu của thanh |
Ghi chú |
|
Bằng |
Trầm bình Phù bình |
Không có dấu ( ) Dầu huyền (`) |
|
|
Trắc |
Phù thượng Trầm thượng Phù khứ Trầm khứ Phù nhập Trầm nhập |
Ngã ( ~ ) Hỏi ( ? ) Sắc ( ’ ) Nặng ( . ) Sắc ( ’ ) Nặng ( . ) |
Riêng cho các tiếng đằng sau có phụ âm c, ch, p, t |
Để đơn giản hóa cách phân biệt bằng và trắc, theo lối viết chữ quốc ngữ, những chữ nào không mang dấu hoặc mang dấu huyền là thanh 'bằng', còn những chữ mang dấu sắc, hỏi, ngã, nặng là thanh 'trắc'. Đối với thanh trắc chúng ta có tới 2 cặp phối âm cho bốn thanh thanh hỏi – thanh ngã – thanh nặng và thanh sắc. Riêng về thanh nặng và thanh sắc lại chia làm hai cặp mới như bảng tổng quy trên.
Như vậy chúng ta cùng có thể hoán chuyển chéo, đối ứng, liên hoàn để có kết cấu của từng cặp phù bình thanh, phù thượng thanh, phù khứ thanh, phù nhập thanh… làm thay đổi cung bậc của câu thơ. Miễn sao câu thơ chuyển tải được tứ thơ độc đáo, mới lạ, chân tình và dạt dào cảm xúc là đạt yêu cầu.
Trên đây là lời đề nghị khái quát một quan niệm chủ yếu dựa vào âm điệu của từ ngữ, để đưa ra những khái luật ban đầu cho những bước cải biên về Thanh – Vận – và cấu trúc kết hợp, nhằm xây dựng một số quy ước mới về Vần và Niêm luật, nhằm đẩy mạnh phong trào sáng tác cho thơ lục bát nghiêng vần trắc.
Vì đề tài khá rộng, tác giả xin tạm ngừng bút. Và xin được trình bày cặn kẽ hơn trong các bài viết sau trong thời gian đầu xuân năm tới. Cũng thân mời quí thi hữu cùng nhấp chung trà trong cái se se lạnh chớm đông, mà đàm luận về thế thái nhân tình xem sao:
Bài học quê
Con gà trống kêu oang oác
Chị mái mơ non xoàng xoạc…cục tác…
Ngó quanh ngó quẩn ngơ ngác
lũ gà con đang giáo giác săn mối
Ở khuất xa xa… đám bụi…
Cánh diều hâu lượn chui chúi… gió xé…
Gà mẹ… xù lông… cánh xệ…
Quây kín đàn con nhỏ bé… chết điếng!
Ở sát ngay bên mép giếng
Bóng “kẻ cườp” vờn… liềng liệng vội vã
Gà mẹ bị thương mệt lả
Bộ dạng tả tơi… nghiêng ngả… vì con
Trái tim loài vật vẫn còn… ?!
Sách
Inter – net lùng nhùng quái vật
Phim truyện ngoại phóng tác vất vưỡng…
oải!
Ti vi chuyện phiếm ma quái
Khoa học giả tưởng biến thái… phù thủy
Sách chứa bao điều suy nghĩ
Của hiện tại tương lai - quỹ ngàn năm.
Sách ươm những sợi tơ tằm
Chuyển hóa bao điều xa xăm cổ tích
Tình cảm nhuốm mầu bi kịch
Trăn trở - khổ đau - phẫn kích - kiêu hùng
Đốt tim cho trái tim hồng
Ngàn năm mộng ước chập chùng thiên thu
U… ù… u… ú… ù… u…!
Thoại Nguyên
Trích trong 100 bài ”Lục Bát Vần Trắc”
ĐT: 0982430675 - Email: vietnguyenlong@gmail.com
|
Xin cáo lỗi. Vì đến nhà anh Xuân Tùng chơi. Rồi nhờ giửi dùm mail góp ý . Ai dè anh XT cho mình cư ngụ tại nhà anh ta luôn! mong quí thi hữu thứ lỗi. Tr. Nguyễn. X. Tùng thấy đây cũng là một ý hay. những đề tài cũ sẽ có thể làm mới; những đề cần sự căng cứng có thể được giải tỏa phần nào: Trong mơ thỏa thuê quái vật Lòng gần như xa... mãi...vất vưỡng... oải! Nàng hóa thân đầy tinh quái Moi mất trái tim trong trạng thái... phù thủy Sác-na nào gặm từng ý nghĩ...! Hẹn tái ngộ. X.Tùng. Lại gặp bác rồi. Theo tôi , nên bỏ lửng ngay ở chữ kiêu hùng và thêm ba chấm: " Tình cảm nhuốm mầu bi kịch Trăn trở - khổ đau - phẫn kích - kiêu hùng..." Vì ba câu sau với những từ ngữ vần bằng, mà cách kết cấu từ ngữ trong câu quá mông lung, và đều đăn , lại cổ điển... Nên giống như một bức tranh lập thể lại lồng trong khung sơn son thiếp vàng cổ kính... ?! Dĩ nhiên cũng phải khen bác là bạo phổi, dám thử nghiêm những điều mới. Chắc chắn sẽ có người thì ủng hộ, người thì không bắng lòng?! Chúc bác vui. Môt người bạn Trọng Nguyễn. Xin cảm ơn tác giả TN. Có điều MT thấy giống thơ tự do quá! riêng "Bài Học Quê " thì tác giả quan sát sự kiện một cách khá tỉ mỉ, và vẽ được một bức tranh quê khá sinh đông. Còn bài "Sách". Không biết có phải vì cố gắng đuổi theo vần trắc mà bài thơ trở nên duy lý ! Đọc nghe khô khan ( Đây là ý kiến cảm nhận của riêng tôi, mong tác giả thứ lỗi). Nhưng dù sao cũng phải công nhận tác giả TN đang cố gắng tim tòi và chấm phá những nét lạ. Cầu chúc anh có nhiều niềm vui. MT. |