Thứ hai, 23/03/2026,


Việc "phá cách" Thơ Lục Bát có từ bao giờ? (25/07/2009) 

    Người ta đã viết nhiều về Thơ Lục Bát, ở phạm vi bài này, chúng tôi không dám lạm bàn chi nhiều về Thơ mà lại bàn riêng về một vấn đề khác, thơ Đường hay Thơ Tàu thì loại tam ngôn, tứ ngôn, lục ngôn, thất ngôn thì đúng rồi? Còn thể Thơ sáu tám (6-8) của nước ta tại sao? Không kêu là thơ Sáu Tám, mà lại kêu là thơ Lục Bát? Chúng ta là người Việt Nam trăm phần trăm, tuy có bị nhà Đường đô hộ, nhưng đa số chúng ta không nói được tiếng Tàu và rất ít người thời bấy giờ làm được thơ Tàu? Vậy tiền nhân của chúng ta tại sao không kêu thơ của chúng ta là thơ Sáu Tám (6-8) mà lại là Lục Bát? Và Thơ Lục Bát phá cách có từ bao giờ?

 

     Năm 1958, ở miền Nam nước ta, xuất hiện một thi sĩ tên là Hà Liên Tử (mà theo nhà phê bình Lâm Vị Thủy lúc đó ở Tờ tạp chí Phổ Thông là một “Văn nghệ sĩ thanh niên hiện đại”. Ông cho xuất bản thi phẩm “Tiếng Bên Trời”; tôi không bình luận cuốn thơ này (không khen và cũng không dám chê) chỉ ghi lại phong cách làm thơ và cách dùng chữ của thi sĩ mà thôi. Thơ như sau:

 

Bỗng dưng

em khóc tôi cười

 

Chuyện mười năm cũ với người

hôm nay

 

(Bóng chiều xuân – Tiếng bên trời)

 

Men đời chuốc cạn đắng cay

Ưu tư liệm chết hồn trai giang hồ

Những là hoa bướm ngày xưa

Người em thơ mộng

ngày xưa...

hết rồi

Bỗng dưng

em khóc

tôi cười

Chia tay

Chẳng biết ai người khổ đau

 

(trích từ cuốn Thi nhân hiện đại tập 2 - Phạm Thanh)

 

     Riêng bài thơ dưới đây, chúng tôi nhớ theo trí nhớ:

 

Mười năm xưa

mười năm sau

Một hình bóng cũ

xóa mầu thời gian

Cầm như

Đã lỗi nhịp đàn

cố nhân ơi

bấy ngỡ ngàng cố nhân

 

     Mấy câu thơ của thi si Hà Liên Tử mang hơi hướng những câu thơ của Nguyễn Du trong Đoạn Trường Tân Thanh:

 

Nửa chừng xuân

thoắt

gẫy cành thiên hương

 

     Bản Kiều thi chép liền một câu “Nửa chừng xuân thoắt gẫy cành thiên hương”.

 

     Thơ chỉ có thế thôi, thế mà nhiều tranh cãi, từ những tờ báo lá cải đến những tờ báo thời danh, báo nào cũng đua nhau “nện” cho thi sĩ Hà Liên Tử “vài trận đòn tơi bời hoa lá”.  Người thì lại lý do, bây giờ là trào lưu thơ tự do từ một chữ đến mấy chục chữ, nào thơ xuôi (poe`me en prose) nào là phá thể, nào là thi si Nguyễn Vỹ thời tiền chiến làm “thơ con ngan, con vịt” (con thiên nga, có hai chân thì có sao đâu? Khi không mang thơ Lục Bát chặt khúc ra, không giống con giáp nào cả, “đập” là phải thôi, sau này thì tôi mới nghiệm ra rằng: “Thiên hạ người ta quá đáng, nếu không nói là quá lời khi bình luận về thơ”

 

     Thế là một chút thí nghiệm (và bước đầu là sự nghiệp của thi sĩ Hà Liên Tử) đến đó thì tạm ngừng lại, và ngay từ lúc đó thể loại thơ Lục Bát “cắt vụn”  tạm thời “phải (bị)” nối liền vào như cũ.

 

     Tưởng thế chuyện thơ Lục Bát tạm ngừng ở đây. Nhưng không, vào năm 1960, tạp chí “Bách Khoa thời đại” ra một số dày gấp đôi, số này đặc biệt kỷ niệm 200 năm thi hào Nguyễn Du, đáng chú ý nhất là hai bài, một của Tiến sĩ âm nhạc Trần Văn Khê (bài “Kiều chơi cây đàn gì?” và bài “Đĩa trà mai hạc của Nguyễn Du” (xin lỗi lâu quá quên mất tên tác giả). Điều đáng nói ở đây là bài “Đĩa trà Mai Hạc” nói đến sự kiện quan Đông các Đại học sĩ Nguyễn Du, đi sứ qua nhà Thanh mấy lần, lần nào cũng đến tận lò gốm để đặt một lúc mấy bộ ly trà và chén đĩa trên đồ gốm đồ sứ có vẽ phong cảnh, chim muông hoa lá. Tranh vẽ trên sứ có nhiều loại, nhiều bức của những họa gia nổi danh, tuy nhiên bức tranh nào mà có nhiều thi gia nổi tiếng đề thơ lên bức tranh thì giá trị bức tranh càng lên cao, những thi gia đề thơ trước, đa số tranh còn khoảng trống, nên dễ đề thơ, các thi gia đề thơ về sau, thì vướng phải mỏm núi, ngọn cây, thành ra có câu dài câu ngắn, ví dụ:

 

Nghêu ngao

vui

thú yên

 

Mai là bạn

cũ hạc

là người

quen.

 

     Hai câu Lục Bát này là của cụ Nguyễn Du:

 

Nghêu ngao vui thú yên hà

Mai là bạn cũ hạc là người quen.

 

     Nếu đề thơ sau những người khác thì không còn chỗ, đành phải nâng lên kéo xuống, đếm chữ chia câu, mới biết thơ thuộc thể loại thơ gì? Hai câu thơ lục bát của Nguyễn Du được viết trên chén là bị chặt khúc ra “vì vướng vào cành trúc”

 

 

    Xin trích dẫn một số câu thơ của thi sĩ Trần Vấn Lệ để minh họa như một điển hình của của loại thơ Lục bát “cắt rời”

 

Gửi em

một đóa hoa hồng

 

Chiều xuân sang hạ

em bồng đi chơi

 

Bồng hoa

có tưởng bồng người

 

Bồng theo với nhé

một thời tương tư

 

(Trích thi tập “Gửi em một đóa hoa hồng)

 

Sáng nay trời lạnh quá chừng

Lạnh như thể chưa từng lạnh hơn

Lạnh và buồn

lạnh cô đơn

Lạnh không gió quyện

lạnh sương không mù

(Một chữ lạnh)

 

Hai tay em

lướt phím đàn

 

Hai tay em

đuổi trăng vàng đi đâu?

 

Phải chi nước đứng

chân cầu

 

Hai tay em giữ

hoài câu thơ tình

 

(Bàn tay kỷ niệm)

 

          Thơ của thi sĩ Trần Vấn Vệ là như vậy, muốn ngắn cứ ngắn, muốn dài cứ dài, tuy nhiên câu sáu chữ và câu tám chữ tổng cộng là mười bốn chữ. Cắt ra cũng ở trong 14 chữ mà thôi, chứ cắt lung tung, thêm thừa thì không còn là Thơ Lục Bát nữa.

 

        Như vậy, từ năm 1958 - đánh dấu bằng sự phá cách thơ Lục Bát của thi sĩ Hà Liên Tử sau đó đã có không biết bao nhiêu thi sĩ làm thơ Lục Bát cũng 'phá cách', và bao nhiêu “cái bát” được hình thành với nhiều kiểu dáng, sắc màu...

 

           Ngày nay, nhiều tác giả trẻ khi làm thơ Lục Bát cũng cố tình 'phá cách' bằng cách 'cắt rời - chặt khúc', hay trình bày so le, xuống dòng tuỳ hứng. Họ tưởng làm vậy là chứng tỏ mình hiện đại, là đổi mới thơ. Nhưng họ lại không biết rằng việc đó cũng đã cũ và xưa lắm rồi.

 

           Rõ ràng, cái hình thức của thơ không quan trọng, cái cần là cốt lõi cơ. Và cái cốt lõi, theo người viết bài này, dù là Sáu – Tám hay Lục Bát thì vẫn là thơ của người Việt, không phải xuất xứ từ chữ Hán, cũng không phải từ chữ Hán Nôm mà là một thể thơ thuần chữ Việt hoàn toàn. Hai từ Lục Bát là chữ Việt Mường (sau là chữ Việt Nôm) hoàn toàn không phải từ Hán Nôm, và hoàn toàn không phải chữ Hán mà thuần chữ Việt

Theo tác giả Chu Vương Miện

(Nguồn: Vantuyen.net)

 

Chia sẻ:                   Gửi cho bạn bè
Mỗi độc giả cũng là một tác giả
(Mời bạn cho ý kiến, cảm nhận và lời bình sau khi đọc bài viết trên)
Họ và tên  *
Địa chỉ  *
Email  *
Điện thoại  *
Nội dung (bạn cần sử dụng font chữ Unicode, có dấu; ghi đầy đủ họ tên, địa chỉ, email, điện thoại,... Nếu thiếu các thông tin đó, có thể chúng tôi sẽ từ chối cho hiển thị
 
  tran dai -  - 0934087030 -   (Ngày 11/09/2009 09:24:04 PM)
Pha cach la dieu khong hay, Ai lam nguoi chiu toi day khong mang.
Các bài khác: