Thứ hai, 23/03/2026,


Lừng danh Tản Đà (11/07/2009) 

 (Nhân đọc 20 số báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy)

 

     Do may mắn tôi mượn được bộ Tiểu thuyết Thứ bảy(T.T.T.B) năm 1935, có hai mươi số. Ngày nhỏ tôi cũng đã được đọc T.T.T.B nhưng đã nhiều năm tháng trôi qua, đến khổ bao, màu giấy cũng quên, nay nhìn lại vừa lạ lùng vừa cảm động, không ngờ lại có ngày mình trở đệ tử đời thứ hai, thứ ba gì đó của những tên tuổi năm chắc cũng mới vào nghề văn chương khoảng trên dưới mươi năm thì phải. Mỗi số báo có 40  trang ruột thì đã dành đến 15 trang cho những truyện dài đăng nhiều kỳ (Giang hồ kỳ hiệp, Những chuyện bí mật thành Ba Lê, Lá ngọc cành vàng), 2 trang rưỡi quảng cáo (tới qua nửa là rao thuốc chữa bệnh phong tình!). Còn lại là đăng sáng tác của những cộng tác viên quen thuộc: NGUYỄN CÔNG HOAN, TẢN ĐÀ , NGỌC GIAO, THANH CHÂU, LƯU TRỌNG LƯ, LÊ VĂN CHƯƠNG, THÁI CAN, TCHYA... Cũng đã đăng nhiều bài phê bình văn học của Hoài Thanh, Thiếu Sơn, Thái Phỉ, mỗi bài khoảng trên ngàn chữ. Về truyện ngắn với những tựa đề chắc là cũng hấp dẫn với người đọc ngày ấy: Công chúa phương xa, Một thiên trường hận, Một khối a tình, Tiếng gọi của Mai Nương... Hoặc là chuyện chàng nàng trong một khung cảnh lịch sử mù mờ, hoặc là chuyện cậu mợ trong cái không khí nhạt thếch nơi đô thị. Truyện nào tôi cũng đọc lướt qua chẳng có cảm xúc gì. Nhưng truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan thì khác hẳn, số báo nào có truyện của ông tờ báo như tươi tắn hơn, sinh động hơn. Trong 10 số báo năm 1935, tôi được đọc bốn truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan: samandji (đăng làm hai kỳ), Mũi Tẹt, Bạn Qúi, Phi Phi. Một truyện Ông chủ (đăng chưa hết) và truyện dài Lá ngọc cành vàng (đăng chưa hết) cũng của Nguyễn Công Hoan.

 

     Năm 1935 Tản Đà là một thi sĩ tên tuổi lẫy lừng khắp ba kỳ. Số 41 có đăng bài thơ Mộng Lý Thiên Thai của Tản Đà kèm theo một đoạn văn của ông giới thiệu bài thơ.

 

Nhà thi sĩ phàm trần, vì kế sinh nhai, lao lực viết bài để gửi cho các báo báo, đêm hôm ngày chín tháng giêng mới đây, vì miệt quá, không thể lại cầm bút viết văn, nhân được ngủ say thành mộng, hoảng như vào cõi Thiên thai, lúc tỉnh dậy được mấy câu, chép ra như dưới:

 

Cõi trần chẳng có Thiên Thai

Cho nên trong giấc canh dài gặp nhau

Tỉnh ra, nào thấy ai đâu

Câu ăn tiếng nói dễ âu mấy người

Tỉnh ra ai lại ở đời

Nhớ ai trong giấc canh dài lại nằm mơ

 

     Những bài thơ khác cũng nói về rượu cả. Như bài Nhớ Bạn Hà Nội (số 43):

 

Nhớ ai như nhớ Đông trùng

Nhớ ai Hà Nội cho lòng bâng khuâng

... sơn hà đôi ngả cố nhân

Non xanh riêng đối ngày xuân sinh sầu

Ước bao giờ lại gặp nhau

uống con hạ thảo, ngâm câu chữ “vèo”

 

     Tới số 47 tôi được đọc một bài bình luận của Uyển Diễm, với tiêu đề: Một Chữ Trong Bài Cảm Thu Tiễn Thu của Tản Đà. Không đăng toàn bài thơ, chỉ đăng có hai câu không rõ là câu giữa hay câu kết:

 

Vèo trông lá rụng đầy sân

Công danh phú quý có ngần ấy thôi

 

      Uyển Diễm dành hẳn nửa cột báo có cái tiếng gió của chữ “vèo” “... ta nghe như gió lùa bên tai ta, gió mách cho ta biết rằng mới nào là xuân mà nay xuân đã qua, hạ thu đông lần lượt một năm trời chóng quá, một đời người chóng quá! Tiếng “vèo” làm cho ta giật mình mà chán chữ danh... xưa nay ai cũng nhận ông Tản Đà chán đời nhưng chúng tôi muốn nói, ông Tản Đà chỉ chán chữ danh”. “... Với một chữ “vèo” trong câu “Vèo trông lá rụng đầy sân”, chúng tôi tin rằng Nguyễn Quân (Nguyễn Khắc Hiếu) đủ cho người sành thơ phải cúi đầu mà nhận Nguyễn Quân làm thi sĩ”. Uyển Diễm có phải là bạn thơ, bạn rượu của thi sĩ Tản Đà ở Hà Nội?

 

     Nhưng tôi thích nhất trong những số này không phải là thơ của Tản Đà mà là một bài tiểu luận rất hay của ông về cái nghề dịch thơ, (T.T.T.B hai số 44, 45) xoay quanh công phu dịch bài thơ dài Trường Hận ca của Bạch Cư Dị. Theo những người sành thơ Đường thì nghệ thuật làm thơ trữ tình của Bạch Cư Dị là vào bậc nhất. Hai bài thơ nổi tiếng của Bạch Cư Dị là Trường hận ca và Từ Bà Hành. Như Tản Đà thuật lại thì Bình Ngô Đại Cáo, ông dịch mất mười ngày đêm, bài Xuân Giang Hoa Nguyệt Dạ, ông dịch khoảng mười năm ngày, riêng bài Trường hận ca ông dịch đúng hai tháng. Ông viết: “Dịch văn đã khó, dịch đến văn vần lại càng khó, vì là số chữ có hạ, điệu luật có vần như kẻ ra tuồng ở trên sân khấu, phải theo khu thế mà múa mang. Cũng là vần mà như các điệu ca, hành của tàu, dịch sang lối lục bát, song thất của ta, thời sự khó có thể xoay chuyển tức như ở trên sân khấu ra tuồng. Đến như thơ ngũ ngôn, bát cú, số chữ và điệu luật càng có hạn định, thời sự càng khó, nghĩ như vẽ vòng mà múa kiếm, lui tới chỉ có trong mấy bước mà thôi”. Bắt đầu vào dịch, Tản Đà phải lấy bản thân mình vào đúng địa vị của tác giả, chính mình cũng muốn làm một bài thơ như thế, lấy nguyên tác làm bản thảo cho mình. Rồi lại phải dùng sự tưởng tượng của mình làm nguồn cảm hứng, lúc là Dường Minh Hoàng, lúc là Dương Quý Phi, lúc là sứ giả. Cái hồn của tác giả như đã nhập vào vào hồn của dịch giả, người dùng tiếng Hán, người dùng tiếng Việt để cùng tả một nỗi lòng. Vào dịch cũng không được gò bó, thử dịch vài câu không thấy vừa ý thì tạm bỏ đợi lúcn khác. Trong htời gian bỏ lửng, dự xét những câu, những chữ nào khó dịch thời tính dần tước, trừ phi lúc nói chuyện với bạn hay ngủ đã say còn không có thời khắc nào lưu tâm. Cứ vậy ung dung ngẫu được giây phút rất hứng thú, như cơn gió thoảng tới, lại tự nhiên dịch được một hai câu không phải dùng sức. Nếu thấy hai câu đó tạm bằng lòng thì nghĩ luôn trên dưới các câu khác. Dược khoảng bảy tám câu người dịch chuyển dần sang địa vị người đọc mà nghe lời ngâm không thành tiếng của mình, chữ nào chưa ổn thì kiếm chữ thay, được chừng bốn năm câu xuôi tai thì lấy bút ghi lại. Như câu thơ thứ ba trông bài Trường hận ca, Tản Đà dịch: Nhà Dương có gái mới choai

 

     Ông lấy làm rất đắc ý một chữ 'choai' đó, dịch chọn được hai chữ trưởng thành mà lại thêm cái ý trào hước. Lại hai câu:

 

Nga My sơn hạ thiểu nhân hành

Tinh kỳ vô quang nhật sắc bạc

 

Dịch:

Vắng tanh dưới núi Nga Mi

Mặt trời nợt thếch, tinh kỳ buồn tênh

 

     Dịch giả tự bình: “Vắng tanh” dịch ba chữ thiểu nhân hành thật hay. Lại mấy câu thơ khi Đường Minh Hoang trở lại kinh thành qua Mã Ngôi nhớ lại người tình yêu dấu vì sự tức giận của ba quân mà phải chịu chết:

 

Phù dung như diện liễu như mi

Đối thử như hà bất lệ thùy

 

     Nguyên văn có hai câu mà khi dịch phải thành bốn mới hết ý là chỗ bất mãn của dịch giả, song cũng có phần đắc ý ở trong câu. Dịch là:

 

Phù dung đó mặt ai đâu tá

Mày liễu đâu cho lá còn như

Càng trông hoa liễu năm xưa

Càng xui nước mắt như mưa ướt dầm

 

     Dịch giả thích hai chữ đâu tá thêm tả được người khuất cảnh còn. Bốn chữ cho lá còn như thêm có vô hạn thương tiếc. Dịch giả Tản Đà kết luận: “Thời gian trong hai tháng chuyên tâm dịch một bài thơ mà những chỗ đác ý liệu có chừng ấy… Cho nên nói đến dịch thơ, cứ tôi, thiệt xin khó”.

 

     Năm 1934, 1935 thơ của Tản Đà cũng không được ban trẻ đọc ham thích lắm thì phải. Cụ nổi tiếng từ thời LưuTrọng Lư còn để tóc trái đào đọc Khối Tình Con, mươi mười lăm năm về trước. Trong những số báo tiểu thuyết Thứ Bảy (T.T.T.B) tôi được đọc của mấy tháng cuối năm 1934 và đầu năm 1935, báo vẫn trân trọng đăng thơ Tản Đà khi ông đã dừng gót giang hồ về sống ở Khuê Thượng. Một đời Tản Đà có hai niềm đam mê: làm báo làm thơ và ngồi uống rượu với bạn hiền suốt từ một dải từ Nam ra Bắc. Lúc làm báo đã hoàn toàn thất bại trở về quê cũ nằm nghĩ những mộng ước đx qua mười phần không được một nên cũng buồn, càng về sau càng buồn, vừa buồn vừa túng thiếu cho tới lúc ông mất khoảng năm năm sau ở Hà Nội (1939). Trong T.T.T.B. số 27 tháng 12 năm 1934 có đăng bài thơ Thú Ăn Chơi của Tản Đà, thơ chẳng lấy gì làm hay nhưng phần chú thích lại hết sức thú vị, vì những cảnh đã đi qua, những món ăn đã thưởng thức và những người bạn của một thời đã xa lắm, dầu bóng dáng họ chỉ hiện lên trong một thoáng cũng dễ làm mình xúc động. Mấy câu thơ mở đầu là có duyên nhất:

 

Trời sinh ra bác Tản Đà

Vợ con thời có cửa nhà thời không

Nửa đời nam, bắc, tây, đông

Bạn bè xum họp, vợ chồng biệt ly

Túi thơ đeo khắp ba kỳ

...

     Rồi:

Hà tươi của biển Tu ran

Long Xuyên chén mắn, Nghệ An đĩa cà

Sài Gòn nhớ vị cá tra

Cái xe song mã, chén chà Nhất Thiên

Đa tình con mắt Phú Yên

...

Chấn Phòng đất khách cơm tàu

Con ca xứ Huế, cô đầu tỉnh Thanh

...

Tuồng Bình Định, rạp Phú Phong

Ổ nam nước mắm, tỉnh Đông chè tàu...

 

     Phần chú thích:

     Khi tàu biển đến Tu ran (Tourane) Người ta đem các giỏ hà lên bán, thiệt tươi ngon. Qua Long xuyên vào nhà ông chánh tổng được ăn những thứ mắm rất đậm đà.

 

    Thời giúp việc đông pháp thời báo của ông Diệp Văn Kỳ thường cùng ông về chơi Cao Lãnh thuộc tỉnh Sa Đéc, là quê của Diệp phu nhân, có lần cùng ông đi ca-nô vượt qua sông Mê Công, hứng thú không ít. Ở Sài Gòn thì ăn cá tra nấu với trái thơm, cá béo mà không có sao mỡ váng lên bát canh. Rồi thuê xe song mã, hai đồng một giờ, đi chơi dạo ngồi uống,chè Long Tỉnh pha với hoa cúc lớn, mỗi chén ba cắc ở hiệu cao lâu Nhất Thiên trong Chợ Lớn vốn là ở của đốc phủ Phương khi trước sau bán  lại cho người Tàu. Rồi bạn yêu thơ lại đặt tiệc ở Chợ Lớn, có nhạc ca, một mỹ nhân cất giọng:

 

Tiếng sấm ân tình bốn mặt ran

Tương quân chí tiếc cánh hoa tàn

 

     Thơ vịnh Kiều trong Khối Tình Con, đọc theo giọng ngâm thơ Sài Gòn thốt nhiên được nghe kể cũng là một sự khoái ý.

 

     Ở Bình Định thì xem tuồng Bình Định rất hay ở rạp Phú Phong, con hát mũ áo ra lạy, vừa tiền tiêu vừa tiền thưởng cho con hát hết bảy đòng bạc, kể cũng có phong thể.

 

     Núi Hải Vân có Hải Vân Quan, núi Hoành Sơn có Hoành Sơn Quan đi xe hơi cùng ông Bùi Huy Tín qua những chỗ đó có dừng xe lên quan ải để du quan.

 

     Ở Thanh Hóa có một ông bạn cũ là nhà tư bản của tỉnh đó, cùng vợ là cô đầu danh ca, bận áo gấm đến nhà quản ca ở ngoài tỉnh hát suốt đêm, thiệ là hay và vui.

 

     Khi đến chơi nhà ông Trịnh Đình Rư làm giáo học ở Hòn Gai trong một bữa cơm ông thiết đãi có cả thịt sơn dương và sò huyết. Một tỉnh mà sơn hào hải vị có đủ chỉ duy Hòn Gai.

 

     Khi tôi ở ấp Đồng Sành của ông Đỗ Đình Đạt, gần huyện Rào, Hải Phòng, hay ăn cá đối, cái đầu nó mềm và ngon. Ngạn ngữ ở vùng ấy có câu: “ Bán ruộng đầu cầu để ăn đầu cá đối”.

 

     Khi tôi ở chơi nhà người bạn là quan tri châu Thanh Sơn, có đi bắn chim qua Giáp Lai, nhân trời tối, ông lý trưởng Giáp Lai, là con rể của quan châu Thanh Sơn, giữ lại ngủ. Hôm ấy là ngày lễ cáo về việc ky của họ, có săn được một con lợn rừng cao đến hơn thước tây, làm theo lối 'lòng dấm” đế cúng tế. Tối hôm trước là cỗ lòng sáng hôm sau là cỗ thịt, hai bữa cỗ thiệt có giá trị thay!

Mấy câu thơ cuối:

 

Nay về Bất Bạt quê nhà

Sông to cá lớn lại là thú ngon

Vắng bè bạn có vợ con

Xa xôi xã hội vuông tròn thất gia

Trăm năm hai chữ Tản Đà

Còn sông còn núi còn là ăn chơi

 

     Tản Đà rời Khê Thượng lên đường đi phiêu du là ngày 25 tháng 3 năm Nhâm Tuất(1922) đến ngày trở về quê cũ là ngày 4 tháng 9 năm Giáp Tuất (1934) tính ra vừa đúng 13 năm. Những bài thơ làm trong khoảng cuối năm 1934 là lúc phải nằm nhà, vừa: “trệnh niềm nhớ cảnh giang hồ” lại vừa bẽ bàng tóc bạc rừng xanh... Sương thu bốn giậu trăng tà nửa hiên.

 

 

     Bài thơ MỘT BỨC THƯ CỦA NGƯỜI NHÀ QUÊ (T.T.T.B số 24 tháng 11 năm 1924) thật có lắm sự buồn.

 

Bốn phương bay mỏi cánh hồng

Đường mây bãi tuyết chán lòng tha hương

Tản viên gác bống tà dương

Gió thu giục khách lên đường về quê

...

Biết nhau từ Khối Tình Con

Quen nhau từ thủa tóc còn đương xanh

Yêu nhau sáu tháng Hữu Thanh

Tản Đà như điếm Hà thành nối duyên

Nước non đã nặng lời nguyền

An Nam tạp chí con thuyền lênh đênh

Phong ba đánh bật khối tình

Tám năm tay lái một mình ngược xuôi

Quản chi sông rộng doành khơi

Buồm không thuận gió, ai ơi, cũng đành!

bẽ bàng tóc bạc rừng xanh

...

 

     Trong thời gian Tản Đà nằm ở Khê Thượng ngoài những bài thơ thù tạc của mấy người bạn cũ là thi sĩ Đông Hồ Hà Tiên và ông Tham toàn ở Bắc Giang với những câu thơ rất sáo, rất nhạt đại loại: “Áng mây non Tản tình lơ lửng - Giọt nước hồ Đông ý chứa chan” (Đông Hồ) hoặc “ Mây vằn non Tản, mây xanh, trắng? - Nước cuộn sông Đà nước đục, trong?”(Thanh Toàn), có lẽ niềm vui lớn nhất của Tản Đà nhận được bài thơ viếng của Mai Lâm, ông này là một ông giáo Sacré- Coeur trên Cao Bằng, nghĩ là Tản Đà đã chết vào tháng 5 năm 1933 nên An Nam tạp chí phải đình bản, trong lòng xót thương đành làm bài thơ viếng. Sau lại thấy thơ Tản Đà xuất hiện trên T.T.T.B biết là ông còn sống nhưng Mai Lâm vẫn cứ gửi bài thơ viếng để thi sĩ đọc, gọi là bày tỏ cái tình của một người yêu thơ với nhà thơ:

 

Ôi thôi! Hỡi bác Tản Đà

Suối vàng nay đã tránh xa cõi đời

... Thơ đầy túi, rượu đầy lưng hồ

Dẫu nho kiết, cũng danh nho nước nhà

... Thuyền nan ai giữ mái chèo

Con tàu bản quốc, ai liều sóng khơi?

Bức Dư đồ rách ai bồi?

Báo An Nam nghỉ ai rồi lại ra?

... Đà dù cạn, Tản dù mòn

Danh thơm thi sĩ vẫn còn truyền lâu

Hồn thơ phảng phất nơi đâu

Chút tình có thấu cho nhau chăng là...

(T.T.T.B số 31 tháng 12 năm 1934)

 

     T.T.T.B số 33 (12 tháng 1 năm1935), Tản Đà có bài Đáp lời viếng của ông Mai Lâm:

 

     ... Người còn hiện tại mà được biết được cái tình cảnh sau trăm năm, thực là một sự có hứng thú. Ông Mai Lâm và tôi là người không quen biết, chỉ vì chút tình đồng bang, mối văn chương mà thương nhau vô hạn, lại đáng cảm biết là nhường nào. Trong bài viếng của ông có câu Báo An Nam nghỉ ai rồi lại ra? Là sự nghĩ về sau lúc tôi đã chết. Nhưng hiện nay tôi vẫn còn sống mà báo An Nam cũng không ra, thời về phần tôi lại không xiết hổ thẹn. Người ta ai không chết, chết mà có người khác thương nhớ đến thời cái sống cũng không đến nỗi vô vị, nay chưa chết mà lại được biết như thế thời riêng nghĩ cũng lại lấy làm mừng.  Nghĩ về phần ông Mai Lâm, người ta chưa chết mà mình viếng, thật cũng “ngộ nghĩnh” mà đáng là buồn cười. Viếng người mà biết rằng người ấy thật có biết, như thế thực là một cái thú thiên cổ... Người ta chết mà có văn viếng, thế gian là sự thường. Tản Đà thật đến lúc chết, liệu cũng còn có nhiều văn thơ, mà như một bài đây, đáng là bài văn viếng thứ nhất.

 

CƯỜI ÔNG MAI LÂM

 

Nực cười cho bác Mai Lâm

Thương nhau cho sớm, mà lầm khóc nhau

Cõi đời đã lánh xa đâu

Mà cho ai nhớ ai sầu hỡi ai!

Tóc tơ vương vít còn dài

Con tằm còn trả nợ đời chưa xong

...

Hủ nho vô ích nước nhà

Rượu thơ còn vẫn la cà trăm năm...

Nhà văn Nguyễn Khải

(Nguồn: Báo Văn Nghệ)

 

 

 

Chia sẻ:                   Gửi cho bạn bè
Mỗi độc giả cũng là một tác giả
(Mời bạn cho ý kiến, cảm nhận và lời bình sau khi đọc bài viết trên)
Họ và tên  *
Địa chỉ  *
Email  *
Điện thoại  *
Nội dung (bạn cần sử dụng font chữ Unicode, có dấu; ghi đầy đủ họ tên, địa chỉ, email, điện thoại,... Nếu thiếu các thông tin đó, có thể chúng tôi sẽ từ chối cho hiển thị
 
Các bài khác: