Thứ tư, 29/06/2022,


VỀ THƠ LỤC BÁT VÀ NHỮNG VẦN THƠ ĐAU CỦA PHẠM XUÂN TRƯỜNG (Bão Vũ) (14/04/2020) 

 VỀ THƠ LỤC BÁT VÀ NHỮNG VẦN THƠ ĐAU CỦA PHẠM XUÂN TRƯỜNG

 

 

 

Tác giả: Phạm Xuân Trường

 

 

 

BÃO VŨ

Hàng ngày ta có thể gặp những tập hợp câu chữ viết có dạng thơ lục bát (6/8) ở khắp nơi. Nhưng một bài thơ lục bát đích thực không dễ thấy, thậm chí một câu lục bát hay lại càng khó gặp.

Riêng tôi, lúc cao hứng, tôi hình dung Lục Bát là một lãnh địa thơ đặc biệt, có thể đặt là Vương quốc Lục bát. Vị hoàng đế của vương quốc ấy không ai khác là thi hào Nguyễn Du với hơn ba ngàn câu thơ lục bát rỏ máu của Truyện Kiều kể về cõi người ta. Dưới vị hoàng đế này cũng đủ văn võ bá quan, là những “lục bát khanh tướng” mà tên tuổi của họ được người đời nhớ mãi vì những bài thơ, câu thơ đặc sắc. Ví dụ, Tản Đà - vị Lục bát Tể tướng, khiến ta có thể khóc vì những câu thơ dịch từ Hán ngữ của ông: “Hạc vàng bay mất từ xưa/ Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay…”; “Đế vương giờ ở nơi đâu / Ngoài hiên sông lớn vẫn sầu lặng trôi”… Và Nguyễn Bính, chàng Lục bát Tư mã giang hồ với “Em đi đấy em về đâu / Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm…”, … Hay Bùi Giáng, một Lục bát Sứ quân hùng cứ một cõi, phong cách túy cuồng, chệnh choạng bất định trong bộ pháp với những tuyệt cú “thần sầu”: “Hỏi tên rằng biển xanh dâu / Hỏi quê rằng mộng ban đầu đã xa…”; “Em về mấy thế kỷ sau / Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không?...” Rồi, Lục bát Đầu lĩnh Nguyễn Duy khiến thiên hạ phải nhập đồng lắc lư mà khóc cười vì “Xanh xanh đỏ đỏ bừng bừng / Tứng từng tưng tửng từng tưng đã đời…” v.v…

Danh tài lục bát được biết đến từ thời Thơ Mới đến nay ta thấy có Nguyễn Bính và một số nhà thơ khác với những bài lục bát đặc sắc khiến người đọc nhớ lâu như Trần Huyền Trân, Thâm Tâm, Huy Cận,… Rồi Trúc Thông, Nguyễn Trọng Tạo, Hoàng Xuân Sơn, Nguyễn Thanh Mừng, Đồng Đức Bốn, …

Lính tốt và thứ dân của Vương quốc Lục Bát cũng không thiếu. Đó là những vị chật vật với câu lục bát ngang phè, quẩn vần, những diễn ca dài thượt miên man đậm chất hò vè… Có vị tuy thuộc hàng công hầu trong vương quốc Thơ nhưng chỉ nhất thời có những câu lục bát cẩu thả thất cách mà bị thiên hạ (dư luận) lột áo mão phẩm hàm, đẩy xuống hàng tiện dân của Lục Bát quốc.

Phạm Xuân Trường, “một tay chơi lục bát có hạng” như có nhà văn nói, có thể được coi là một Đô đầu Lục bát, thuộc số những nhà thơ khá thành công ở loại thơ này. Khi bắt đầu đọc một bài thơ lục bát của Phạm Xuân Trường thì ta có thể yên tâm đọc hết bài mà không sợ gặp phải sự trúc trắc đâu đó về vần, luật. Đối với nhiều nhà thơ khác, tuy cũng thuộc hàng danh tiếng, nhưng tôi luôn nơm nớp sợ bị như thế, nên mới ướm đọc vài câu đầu thấy không gợi được điều gì thú vị thì vội bỏ ngay; không phải vì coi thường mà vì sợ sẽ gặp phải những lỗi về vần luật, là điều tối kỵ, là sự xúc phạm thơ lục bát và người đọc. Điều quan trọng nữa mà một người lành nghề lục bát đều hiểu là cách biểu đạt trong một bài thơ thuộc thể loại này phải khác hơn so với một bài thơ theo vần luật khác hay thơ tự do.

Bài thơ đầu tiên có tên “Làm vua” của Phạm Xuân Trường đã đoạt giải báo Giáo dục và Thời đại do các nhà thơ Hữu Thỉnh, Vũ Quần Phương giám khảo. “Làm vua” có thể đại diện cho thơ Phạm Xuân Trường. Bài ngắn, chỉ đọc một lần là có thể nhớ được ngay:

Rủ nhau vô Huế làm vua

Ngai vàng cũ hóa trò đùa hôm nay

Tôn nghiêm rẻ đến thế này 

Thì ta chân đất điếu cày lên ngôi

Vàng son ờ cũng thế thôi

Chia tay Huế ngổn ngang trời mưa…mưa…

Âm điệu và ý nghĩa của bài thơ lắng đọng da diết, khiến ta thấm thía nỗi buồn cho sự hưng vong thiên cổ.

Lục bát là thể thơ vững chãi, chặt chẽ, là cái khuôn phép cố định bất khả hoán cải. Không ít người đã thử làm đủ mọi cách để đổi mới thơ lục bát, kể cả việc dùng thủ pháp hiệu ứng thị giác chia cắt phá phách trật tự trình bày câu chữ trên giấy. Nhưng một yêu cầu bất biến của loại thơ này là khi đọc lên cứ phải rõ 2 câu: Câu trên 6 tiếng và câu dưới 8 tiếng với vần điệu rõ ràng và phải tuân theo thanh luật là quy tắc kinh điển: nhất, tam, ngũ bất luận; nhị, tứ, lục phân minh. (…). Vì thế, những khổ công khảo nghiệm, mọi mưu toan biến đổi lục bát đã trở nên vô ích, và không thành công. Chỉ còn điệu thức, nội dung và ý nghĩa quyết định vẻ đẹp của một bài thơ lục bát.

Trong 7 tập thơ đã xuất bản của Phạm Xuân Trường phần lớn là thơ lục bát:  (Cỏ cháy - 2002, Ở trọ hồn làng - 2007, Bến chuồn chuồn - 2010, Ấn tượng trong tôi - 2010, Thần dược -  2015, Dị thảoKỳ hồ - 2019) đã đem đến sự thú vị cho người đọc, như tôi được biết qua những cuộc tiếp xúc với bạn bè văn chương. Có những bài thơ lục bát của Phạm Xuân Trường được giải thưởng. Riêng tập thơ “Cỏ cháy” đoạt giải của Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam.

Có thể thấy Phạm Xuân Trường đã bỏ công tạo ra một thứ ca dao, dân ca như cách làm của những tác giả lục bát danh tiếng. Đó là những bài thơ đậm chất quê cổ điển bày tỏ tâm sự, những khao khát của người bình dân có liên quan tới thời cuộc. 

Máu đào một giọt chia hai

Đứa đi quân dịch, đứa ngoài chiến khu

Trời còn nín được cơn mưa

Má sao nén được giọt thưa giọt dầy

Mộ chồng một nén nhang gầy

Con hai nấm đất bên này, bên kia

Thắng thua ngủ dưới mộ bia

Vô danh kia nữa thì chia cho đều…

(Chiều nghĩa trang)

Những câu: một giọt chia hai - nín cơn mưa - giọt thưa giọt dầy - chia cho đều… nghe gần với ca dao cổ.

Đã từng có những cuộc tranh cãi về nguồn gốc thơ lục bát. Số đông cho rằng lục bát là thơ riêng của người Việt Nam. Có người khẳng định lục bát thuộc về dân tộc Chăm. Thậm chí, có người chỉ ra rằng nhiều dân tộc trong vùng Đông Nam Á cũng có thơ lục bát. Tôi thì nhớ trong tiểu thuyết phóng sự “Lều chõng” của Ngô Tất Tố, một nhân vật thày đồ đã dạy học trò rằng, trong cổ thư gồm kinh, truyện, sử của Trung Hoa xưa, mỗi bộ đều có câu lục bát. Và ông đồ dẫn ra khá nhiều câu: "Phù thủy nhất thước chi đa / Cập kỳ bất trắc ngoan đà giao long",Đế sĩ sái xác hữu công / Sử chi tòng tự triết tông miếu đình",v.v…  Nhưng ta cũng biết rằng, những câu ấy chỉ là thơ lục bát khi ở dạng phiên âm Hán - Việt (của người Việt), còn nếu đọc lên theo âm Bắc Kinh sẽ không ra vần bằng trắc vì tiếng Hoa chỉ có 4 thanh, trong khi tiếng Việt ta có tới 6 thanh.

Phạm Xuân Trường cho rằng những điều ấy không quá quan trọng; chỉ biết rằng thơ lục bát đã tồn tại trên đất Việt từ lâu, người Việt Nam nào cũng biết đến thơ lục bát. Cũng với Phạm Xuân Trường, thơ lục bát vốn là của người bình dân mang ý nghĩa đẹp về con người và thiên nhiên, là phương tiện tốt nhất để nói về số phận, nguyện vọng của người dân. Bao đời nay dân chúng đã dùng thơ lục bát, để giãi bày, để ca tụng, phản kháng, đả kích… các hiện tượng của xã hội theo tâm trạng và hoàn cảnh của mình.

Tôi cũng đã nhận ra một điều đặc biệt về thơ lục bát. Những cao nhân của loại thơ này thường không để người đọc thấy công phu của mình khi thao tác kỹ thuật mà chỉ để độc giả thưởng thức tình ý thâm trầm của câu thơ. Việc thực hiện niêm luật những câu thơ lục bát phải tự nhiên như không có sự dụng công nào, cho dù nhà thơ có phải vất vả trong việc này.

Trong thơ lục bát, điều nhà thơ cần nói sẽ không giống như với bài thơ theo vần luật khác hay thơ tự do. Những bài thơ lục bát thành công trong đó thường có tình ý, cách thức của những câu ca dao, dân ca cổ. Đó là sự vơ vẩn, ỡm ờ, lúng liếng, hoặc bâng khuâng, nghẹn ngào, hờn giận, trách móc, như một đặc tính của thể loại thơ này.

Lục bát của Phạm Xuân Trường luôn chất chứa những đau đớn, ngậm ngùi thương cảm và cả sự giận dữ, khiến cho những vần thơ như phong dao, dân ca ấy không chỉ véo von tình tứ mà còn nhức nhối về kiếp người, về nỗi đời. Những bài thơ của Trường dù dài, ngắn, với đề tài nào cũng ít thấy những câu thơ vui, nhất là khi anh nói về những người dân thường, đã được nhiều người thuộc, ngâm ngợi thích thú, bởi những câu thơ như nói hộ những ấm ức trong lòng mình.

…Bàn cờ phận tốt mong manh

Thấp cao cỏ chả tranh giành với ai

Khi vui phải biết đứng ngoài

Đến khi máu đổ chẳng ai trước mình…

(Cỏ hát).

Và :

Ngổn ngang trên cánh đồng người

Mẹ ngồi cời những nụ cười thành than

(Đốt mã) –

Mẹ là khuyết con đang rằm

Con ban mai nắng mẹ thăm thẳm chiều

(Lòng mẹ) –

Bao nhiêu sẹo ở thân cành

Gió ơi còn hát biếc xanh làm gì

(Giếng chùa) - …

Ở nhiều cuộc tiếp xúc của giới văn nghệ, tôi đã chứng kiến sự tán thưởng thân thiện từ những người đã đọc thơ Phạm Xuân Trường. Họ bày tỏ cảm khoái với những vần câu thơ lục bát trước những nghịch lý, bất công.

…. Dẫu là chôn xuống vật lên

Ngàn năm cỏ vẫn vững bền sinh đôi

… Cầm bằng hai chữ hư danh

Thảo dân và cỏ ta thành một đôi

Thản nhiên xanh một kiếp đời

Bao dung cỏ hát giữa trời vô danh…

(Cỏ hát)

Kìa ai nửa tỉnh nửa mê

 Trắng tay còn một câu thề chặt đôi

 Đất đai giờ đã lên ngôi

 Tình người đồng kẽm buông xuôi giữa đời…

(Chôn dọc).

Và sự cảm thông với những tấm lòng nhân hậu một thời, trước bạc bẽo của người đời: 

 Ngủ đi rơm rạ mùa thu

 

 À ơi sương giá ngày mù như đêm

Ngủ đi giun đất yếu mềm

Thôi đừng quặn nữa đau thêm lòng này

… Rạ rơm ơi chớ giận hờn

 Nén đau cối gạo mo cơm chấm vừng

 Bây chừ qua ngõ dửng dưng

 Ai cần mặn muối cay gừng nhà quê…

(Ngủ đi)

 

  Nỗi đau của người mẹ tử sĩ đâu có thể xoa dịu bằng những bài thơ tán tụng vô cảm, cùng khuôn mẫu giả tạo. Về điều này, Phạm Xuân Trường có một câu thơ rớm máu, theo thể song thất lục bát:

…Con chết thật, mẹ thì sống giả

 

 Biết làm sao gửi được xuống mồ

Ai đem vàng mã vào thơ

 Để thêm lần nữa dưới mồ kêu đau…

(Quán trọ)  

Phạm Xuân Trường đi nhiều nơi, những chuyến đi dành cho thơ. Anh có nhiều bài viết về văn nghệ sĩ, về những văn nhân lớp tiền bối như Nguyên Hồng, Văn Cao, Nam Cao, Nguyễn Bính, Trần Dần, ... Anh giúp chút đỉnh cho những bạn văn có hoàn cảnh khó khăn. Thơ anh đem đến cho người đọc nỗi thương cảm chân thành khi đứng trước nấm mồ một văn nhân có số phận oan khiên cay đắng vì nghiệp bút nghiên.  

 Phạm Xuân Trường còn có tài làm tranh gò đồng. Anh đã kỳ công khắc họa tới gần 100 bức chân dung những văn nghệ sĩ mà mình yêu kính. Sau khi trưng bày ở các phòng triển lãm, anh đem về treo kín tường nhà, ngày ngày anh trò truyện với những chân dung ấy:

 

… Rượu trong như nước mắt người

Hai tay nâng chén con mời vĩ nhân

Nguyên Hồng, Phùng Quán, Nguyễn Tuân

Trần Dần, Lê Đạt, Huyền Trân, Lê Bầu…

(Nhà tôi thành bảo tàng đêm)

Hòa Vang, một người nhiệt huyết mà tôi đã biết qua những cuộc điện đàm sôi nổi giữa anh và tôi; nhưng từ thơ Phạm Xuân Trường tôi đã thấy văn tài yểu mệnh này còn có những nỗi ngậm ngùi:

Vơi đi nắng lửa từng ngày

“Vẹn nguyên trong dở dang” này phần em

 Người đi về phía không tên

 Tầm xuân hoa rụng trước thềm như mưa…

(Bút gươm trao lại) - “Vẹn nguyên trong dở dang” là tên một truyện ngắn của Hòa Vang.

Tôi lặng người khi đọc Phạm Xuân Trường viết về Nguyễn Bính:

…Sống tha phương, chết tha hương

 Bốn phen cải cát nắm xương giang hồ

… Sống thì mắc nợ phù hoa

Chết về với đất làm ma thất tình…

(Viếng mộ Nguyễn Bính)

Tác giả của những vần thơ “Mây Tần” thác rồi mà hài cốt của ông vẫn phải di chuyển tới bốn lần, như sinh thời của một kiếp thi nhân phiêu bạt.

Thơ Phạm Xuân Trường thể hiện sự yêu ghét quyết liệt, như con người thực của anh. Trong bài “Dở hơi”, bức chân dung tự họa, anh viết:

…Thật lòng ghét thật lòng yêu

 Thơ thì gàn dở nói điều xót xa

 Vơ vào toàn chuyện người ta

 Để mà khóc mướn để mà thương vay…

Khi hai nhà thơ Ý Nhi và Mai Văn Phấn của Việt Nam được giải thưởng Cikada – Thụy Điển dành cho các nhà thơ Đông Á, người viết bài này có cuộc phỏng vấn Chủ tịch Hội đồng giám khảo Giải thưởng, tiến sĩ Lars Vargo, một nhà thơ rất chú ý tới những thể thơ mang đặc tính riêng của các nước Đông Á, là người rất hâm mộ thơ Đường, thơ Tống của Trung Quốc, và đã sáng lập Hội thơ Haiku Thụy Điển. Tôi đã giới thiệu sơ qua về thơ lục bát của Việt Nam và hỏi, đại ý: Có thể ngày nào đó, Hội đồng giải thưởng Cikada sẽ xem xét tới những nhà thơ Việt Nam chuyên viết thơ lục bát? Vị tiến sĩ trả lời: “Tôi thực sự háo hức được tìm hiểu về thơ ca truyền thống của Việt Nam. Chắc chắn chúng tôi sẽ không phản đối việc trao giải cho các nhà thơ sáng tác theo thể thơ lục bát, nếu nhà thơ đó thực sự xuất sắc, tại sao lại không chứ?” Và vị tiến sĩ nói thêm: Chúng tôi không đi tìm những kiểu thơ đặc biệt, mà quan trọng, nó phải lột tả được sự trân trọng tính bất khả xâm phạm của đời sống một cách sâu sắc. Có nghĩa, ít nhiều phải là những nhà thơ rất nhạy bén, để có thể diễn tả được vẻ đẹp mỏng manh của số phận con người trên trái đất và trong toàn bộ cuộc sống này.”

Có thể có người cho rằng thơ lục bát đã quá cũ kỹ vì tính gò ghép vần luật, hạn chế sự biểu đạt, và vì vậy thể thơ này khó còn chỗ  trong nền thơ đương đại. Nghe có vẻ hữu lý, nhưng, nếu vẫn còn những câu lục bát làm cho người đọc khóc, cười, khoái hoạt và giận dữ thì nghĩa là thể thơ này vẫn còn sức sống mạnh mẽ.

Xin hãy thử lắng hồn mình nghe Phạm Xuân Trường khóc những người bạn lính đã chết trận, không về dự buổi họp lớp cũ của những ông bà già ngày nay, vẫn “mày tao” thân thiết với nhau như ngày xưa. Bài thơ “Họp lớp” như lời khấn vọng các vong hồn tử sĩ:

…Thương cho những đứa không về

Lời nguyền đã cởi, câu thề đã buông

Người ta bán đất mở đường

Biết đâu sỏi đá lẫn xương chúng mày

Khởi công rượu đỏ trên tay

Phải chăng là máu chúng mày đấy thôi

Quá giang những chuyến đò người

Về đây góp một tiếng cười rồi đi…

 

  

 Bão Vũ

 

 

Chia sẻ:                   Gửi cho bạn bè
Mỗi độc giả cũng là một tác giả
(Mời bạn cho ý kiến, cảm nhận và lời bình sau khi đọc bài viết trên)
Họ và tên  *
Địa chỉ  *
Email  *
Điện thoại  *
Nội dung (bạn cần sử dụng font chữ Unicode, có dấu; ghi đầy đủ họ tên, địa chỉ, email, điện thoại,... Nếu thiếu các thông tin đó, có thể chúng tôi sẽ từ chối cho hiển thị
 
  Trịnh Toại - tvtoai@gmail.com - 0983325625 - 19/70/11 Đông Khê, Ngô Quyền, Hải Phòng  (Ngày 19/04/2020 11:09:10)

Đọc bài viết hay, chỉ tiếc là cỡ chữ ko thống nhất (cỡ 10 là vừa và đúng quy định của trang) chỗ to, chỗ nhỏ, hơn nữa to quá so với cách dòng nhìn không đẹp, rối mắt nữa... ĐN, sửa đúng để thống nhất của BBT ạ!
Xin cám ơn !
BTV Trịnh Toại

Các bài khác: