Người Việt chúng ta dạt dào tình cảm, từ tình yêu nước thương nòi, yêu quê hương đất nước, thương yêu cha mẹ anh chị em đến bạn bè, làng xóm. Tình cảm làm con người mơ màng, dễ xúc động trước cảnh, trước người. Thêm nữa tiếng Việt âm thanh trầm bổng tự nhiên nên khi chúng ta nói giọng cao, giọng thấp của các âm mang dấu sắc, dấu huyền, dấu hỏi, dấu ngã, dấu nặng nghe tựa như một bản nhạc hay một bài thơ.
Sách cổ Tàu ghi người Việt nói líu lo như chim hót. Mới đây khi tôi vào mua đồ sửa chữa xe, người bán hàng cho biết ông ta đã sống ở Việt
Ông cha ta đã để lại một kho tàng văn chương đồ sộ, kho tàng đó là những câu tục ngữ, ca dao ghi lại mọi khía cạnh của đời sống từ tình yêu nam - nữ đến tôn giáo, trời đất, phong tục tập quán, quan niệm về sự sống, cái chết, cách trồng tỉa, thời vụ...
Hai tập “Tục Ngữ Phong Giao” của Ông Nguyễn Văn Ngọc được sưu tập vào năm 1928 gồm hơn 6500 câu tục ngữ, hơn 850 bài ca dao và 366 bài thơ đố. Sau này Ông Trọng Toàn trong hai tập “Hương Hoa Đất Nước” do nhà Xuất bản Bốn Phương in năm 1956 thu tìm được 2077 bài gồm từ hai đến mười câu thơ. Không biết những câu phương ngôn của các địa phương xa xôi đã được ghi nhận hết chưa? Trong hơn hai ngàn bài ca dao Ông Trọng Toàn ghi nhận, tính trung bình mỗi bài có 5 câu thơ thì chúng ta có hơn mười ngàn câu ( 2.077 x 5 =10.385).
Điều đó chứng tỏ chúng ta có một nền văn học rất phong phú, rất sớm, cách đây nhiều ngàn năm, không thua người Trung Hoa về thời điểm và cả về số lượng vì khi Khổng Tử soạn Kinh Thi chỉ chọn được hơn ba trăm trong số những bài ca dao từ thời thượng cổ đến đời vua Bình Vương nhà Chu để dạy người Trung Hoa.
Ông Phan Khôi trong bài khảo luận về Tục ngữ Phong giao đăng trên báo Tao Đàn ngày 1-08-1939 cho rằng: 'Trong hạng phong giao tả tình Việt
Trước hết phải nói người Việt là một dân tộc chuộng thơ văn. Câu nói 'mỗi người Việt Nam là một thi sĩ' không có gì quá đáng vì người Việt sống bằng tình cảm, dạt dào tình cảm, tâm hồn dễ rung động lại sống trong một đất nước có núi cao, sông rộng, biển cả mênh mông, cỏ cây bốn mùa xanh tốt, con người hiền hòa dễ mến.
Trước cảnh ấy, người ấy, tất tức cảnh thành thơ:
- Trúc xinh trúc mọc đầu đình,
Đây là cảnh đẹp trên đường vào xứ Nghệ:
Đường vô xứ Nghệ quanh quanh,
Non xanh , nước biếc như tranh họa đồ.
Ai vô xứ Nghệ thì vô!
Trước cảnh núi cao, sông dài, biển rộng, con người bâng khuâng tự hỏi:
- Núi kia ai đắp mà cao ,
Sông kia , biển nọ ai đào mà sâu!

Ngày nay chúng ta thường hiểu Ca dao là một thể thơ bình dân, nhưng nguyên thủy ca có nghĩa là hát và dao là bài hát ngắn. Vậy từ ngàn xưa trải dài qua cuộc sống dân tộc chúng ta mặc nhiên là ca sĩ trước khi trở thành thi sĩ mà không ai để ý.
Điều đó dễ hiểu vì ngôn ngữ của chúng ta qúa dồi dào âm điệu, nói ra tiếng là đã thành như ca hát. Tiếng Việt rất phong phú về âm, chúng ta có khoảng 15.000 âm do sự biến hóa của các dấu kể trên với 12 nguyên âm i ,o , a... và các nguyên âm kép như oa , oe , iu... So với Trung Hoa, tiếng Bắc Kinh (Quan Thoại) chỉ có khoảng 1.300 âm - chưa bằng 1/10 Việt Nam; với Nhật số âm còn ít hơn, khoảng 120 âm (Tài liệu lấy từ “Tiếng Việt mến yêu” của Ông Đỗ Thông Minh đăng trong “Tập San Lê Hoa” số Xuân 2006, trang 116).
So số vần trong 8 câu thơ Lục bát của ta với 8 câu thơ luật Đường của Trung Hoa thì số vần gấp hơn 2 lần (11 đối với 5):
(Chữ Vần)
Có lẽ vì số âm ít nên Trung Hoa và nhiều nước khác không có thể thơ có vần ở giữa (yêu vận) như loại thơ Sáu/Tám (Lục Bát) của ta.
Nhờ âm, điệu dồi dào nói không đã thành thơ, thành nhạc thì việc làm một vài câu thơ tả tình, tả cảnh hay nói về phong tục tập quán (tục ngữ) hoặc những lời khuyên dạy con cháu (châm ngôn) không khó. Bởi vậy từ xa xưa, trước khi có học hành chữ nghĩa, người Việt đã sáng tác rất nhiều câu thơ chúng ta gọi là ca dao. Những bài 'thơ' ngắn có vần, điệu êm tai, dễ nhớ nên được phổ biến rộng rãi và lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác .
Bất cứ người Việt
- Cơn (mưa) đàng đông vừa trông vừa chạy.
- Lạy trời mưa xuống,
Lấy nước tôi uống,
Lấy rung tôi cày,
Lấy bát cơm đầy,
Lấy rơm đun bếp.
- Ai ơi chớ lấy học trò,
Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm.
Người bình dân từ thuộc ca dao và có thể dễ dàng tự sáng tác những câu ca dao. Vì vậy phần lớn ý của ca dao đơn giản, bình dị; cách gieo vần cũng thế nên có người nói ca dao giống vè nhiều hơn thơ:
- Tin bợm mất bò,
Tin bạn mất vợ, nằm co một mình.
-
Nói quấy nói quá cũng nghe ầm ầm.
Tuy nhiên có những bài ca dao rất hay cả về ý lẫn lời như bài dưới đây:
- Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống vườn cà, hái nụ tầm xuân.
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Em đã có chồng anh tiếc lắm thay!
- Ba đồng một mớ trầu cay ,
Sao anh không hỏi những ngày còn không !
Bây giờ em đã có chồng,
Như chim vào lồng, như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,
Chim vào lồng biết thuở nào ra!
Đó là tâm tình của đôi trai gái ở sát nhà nhau, biết nhau từ nhỏ, lớn lên 'tình trong như đã mặt ngoài còn e'. Rồi chàng phải lên đường tòng chinh hay vì nhà nghèo phải đi xa làm thuê làm mướn, khi trở về thì:
Trước sau nào thấy bóng người ,
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông
(Nguyễn Du)
Ôm mối thất tình chàng buồn rười rượi. Thế rồi mt hôm nàng được phép chồng về thăm cha mẹ. Nghe giọng ai quen mà nhìn không thấy mặt vì hai nhà cách nhau bờ giậu. Lòng chàng bồn chồn đứng ngồi không yên hết leo lên cây bưởi ngó sang, lại xuống vườn cà sát bờ rào giả hái nụ tầm xuân (hoa hồng dại) để mong thấy mặt nói lời than thở. Hai câu chót dùng vần trắc (biếc, tiếc) diễn tả nỗi lòng đau khổ:
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Em đã có chồng anh tiếc lắm thay!
Và nàng cũng vậy , sau khi trách chàng sao không dạm hỏi trước khi ra đi, đã tỏ rõ nỗi lòng nuối tiếc không cùng vì ván đã đóng thuyền mất rồi! Còn nền luân lý khắt khe, còn danh phận phải giữ gìn, không thể làm gì hơn. Nàng cũng dùng vần trắc (gỡ, thuở) ở hai câu cuối để bày tỏ lòng mình:
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,
Chim vào lồng biết thuở nào ra!
Mấy câu ca dao sau đây nói lên nỗi buồn cô quạnh, mênh mang của kiếp con người:
Đêm qua ra đứng bờ ao,
Trông cá , cá lặn trông sao, sao mờ ,
Buồn trông con nhện giăng tơ,
Nhện ơi , nhện hỡi , nhện chờ mối ai!
Thiết tưởng những thi sĩ tài danh đời sau như Nguyễn Du, Tản Đà, Nguyễn Bính, Bàng Bá Lân... chắc đã làm được nhưng câu thơ hay hơn?
Chúng ta so sánh mấy giòng thơ sau đây với bài thơ “Thề non nước” của thi sĩ Tản Đà. Cả hai đều nói lên lòng chung thủy đợi chờ xem bài nào cô đọng hơn, xúc động hơn:
Đêm đêm tưởng giải Ngân Hà,
Bóng sao Tinh Đẩu đã ba năm tròn.
Đá mòn nhưng dạ không mòn,
Tào khê nước chảy, lòng còn trơ trơ.
(Ca dao)
Nước non nặng một lời thề,
Nước đi đi mãi không về cùng non.
Nhớ lời nguyện nước thề non,
Nước đi chưa lại non còn đứng không.
Non cao những ngóng cùng trông,
Suối khô giòng lệ chờ mong tháng ngày.
Xương mai một nắm hao gầy,
Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương . . .
(Thề non nước - Tản Đà)
Lối hát Quan họ Bắc Ninh, hát Ví hay hát Đối của đồng bào dân quê miền Bắc, Hát Trống Quân vào đêm Trung Thu, Hò kéo gỗ, Hò giã gạo, Hò miền Nam, Hát ru v.v… hầu hết dùng thể thơ Sáu/Tám cả.
Nhưng nói đến thơ bình dân mà không nói đến vè là một thiếu sót. Vè là loại bình dân nhất, dễ làm nhất thường dùng để đả kích chế nhạo, trêu cợt :
Nghe vẻ nghe ve,
Về sau, người ta dùng hai câu thơ bảy chữ có vần trắc cùng với thể thơ Sáu/Tám thành thơ Song Thất Lục Bát sở trường diễn tả sự buồn phiền, ai oán trong Bần Nữ Thán, Chinh Phụ Ngâm, Cung Oán Ngâm Khúc (có người cho rằng 2 câu thơ 7 chữ do biến thể từ thơ Đường luật, sau khi đọc kỹ ca dao tôi thấy không đúng. Lối gieo vần trắc ở giữa đã có rất nhiều trong ca dao, thí dụ vắn tắt như bài “Trèo lên cây bưởi hái hoa” ở trên).
Có thể nói nền văn hoá Việt
Từ đó tiến tới loại thơ gần với thơ Sáu/Tám. Chúng ta lần lượt đọc những câu sau đây để hiểu rõ hơn sự tiến triển của ca dao Việt
- Nắng sớm thì đi trồng cà,
Mưa sớm ở nhà phơi thóc.
- Cố đấm ăn xôi,
Đấm thì vô hồi, xôi chẳng được ăn.
- Mặt nạc đóm dày,
Mo nang trôi sấp biết ngày nào khôn.
- Ba vợ, bảy nàng hầu,
Đêm nằm chuồng trâu, gối đầu bằng chổi!
Có thể nói thể thơ Sáu/Tám là thể thơ hoàn chỉnh nhất, không những được giới bình dân sử dụng mà cả những người có học nơi cửa Khổng sân Trình không những dùng để sáng tác tiểu thuyết dài bằng thơ mà còn dùng để viết sử như tác giả Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Thiện với “Truyện Hoa Tiên”; Nguyễn Du với “Truyện Kiều” ; Nguyễn Đình Chiểu với “Lục Vân Tiên”; Phạm Đình Toái và Lê Ngô Cát với “Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca”….
Ngày xưa nhà Nho thi cử phải thông thạo Phú Lục, Văn sách là những loại văn thơ của Tàu, không học văn thơ Việt Nam nên loại thơ chính thức các cụ hay làm là thơ Đường (loại thơ bảy chữ tám câu). Nhưng nếu tổng cộng tất cả thơ được các cụ sáng tác bằng chữ Nho chưa chắc bằng số thơ các cụ sáng tác bằng chữ ta (nôm) qua thể thơ Sáu/Tám. Điều đó giải thích tại sao chúng ta dù có trên ngàn năm Bắc thuộc vẫn không bị “Tàu hóa” và nêu rõ địa vị quan trọng của tục ngữ ca dao trong nền Văn hóa Việt
Đó mới chỉ là xét qua theo hình thức, xét phần nội dung: những tư tưởng, tình cảm, phong tục, tập quán chứa đựng trong những câu nói, câu thơ bình dân kể trên mới là phần quan trọng. Sau đây là những điểm chính:
- Tín ngưỡng: Tín ngưỡng tức niềm tin tôn giáo. Người Việt
Người Việt tin Ông Trời là đấng tối cao tạo dựng vạn vật, có toàn quyền năng mà mỗi khi cần xin điều gì , người ta vái lạy:
Lạy Trời mưa xuống,
Lấy nước tôi uống,
Lấy ruộng tôi cày,
Lãy rơm đun bếp.
Đối với những kẻ độc ác, bất nhân người ta tin sẽ khó lòng thoát khỏi bị Trời trừng phạt với câu: 'Trời có mắt ' hoặc 'Không có Trời ai ở được với ai' hay:
- Đừng cậy khoẻ, chớ cậy giàu,
Trời kia còn ở trên đầu, còn kinh.
- Của Trời, Trời lại lấy đi,
Giương hai mắt ếch làm chi được Trời!
Nên người ta phải ăn ở hiền lành, có nhân, có nghĩa:
- Làm ơn ắt hẳn nên ơn,
Trời nào phụ kẻ có nhơn bao giờ.
Do đó người ta tin tưởng vào Đạo Trời:
- Dù ai nói ngược, nói xuôi,
Ta đây vẫn giữ đạo Trời khăng khăng.
Hình ảnh Ông trời đã ăn sâu vào tiềm thức người Việt
Đạo Phật đã hiện diện ở Việt Nam hơn 2 ngàn năm nhưng không xóa được hình ảnh Ông Trời trong đầu óc họ, trái lại người ta vẫn thường nói: 'Nhờ Trời, nhờ Phật '
- Nhân sinh quan: Cũng như tư tưởng của Lão Trang du nhập về sau, người Việt Nam đã sớm nhận ra cuộc đời ngắn ngủi như hoa sớm nở, tối tàn:
- Người đời khác nữa là hoa,
Sớm còn , tối mất , nở ra lại tàn.
Tuy cuộc đời ngắn ngủi, phi lý nhưng người Việt chúng ta quan niệm đã sống thì sống cho có ý nghĩa, đừng phí phạm tháng ngày:
- Đời người được mấy gang tay,
Ai hay ngủ ngày, chỉ được nửa gang.
Và:
- Làm trai cho đáng nên trai,
Xuống đông đông tĩnh, lên đoài đoài tan.
Ngoài ra tục ngữ, ca dao còn đề cập đến nhiều vấn đề như giáo dục, tâm lý người đời, phong tục, tập quán, thời tiết, nông vụ…
Giáo dục:
- Cá không ăn muối cá ươn,
Con không nghe lời cha mẹ trăm đường con hư.
- Dạy con, con chẳng nghe lời,
Con nghe ông hểnh đi đời nhà con.
- Ăn trông nồi, ngồi trông hướng.
- Công cha đức mẹ cao dày,
Cưu mang trứng nước những ngày ngây thơ.
Nuôi con khó nhọc đến giờ,
Trưởng thành con phải biết thờ hai thân.
- Mồng chín tháng Chín không mưa,
Mẹ con bán cả cày bừa mà ăn.
Mồng chín tháng Chín có mưa,
Mẹ con đi sớm về trưa mặc lòng.
- Tháng Giêng là tháng ăn chơi,
Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà…
- Phép vua thua lệ làng.
- Chồng cô, vợ cậu, chồng dì,
Trong ba người ấy chết thì không tang.
- Lạy cha ba lạy, một quì,
Lạy mẹ bốn lạy con đi lấy chồng.
- Khó khăn ở chợ leo teo,
Ông cô, bà cậu chẳng điều hỏi sao.
Giàu sang ở tận nước Lào,
Hùm tha, rắn cắn tìm vào cho mau.
Tóm lại, chỉ nhận xét riêng về phần Ca dao chúng ta thấy nước Việt từ ngàn xưa đã có một nền văn hoá riêng, phong tục tập quán riêng, tín ngưỡng riêng (thờ Trời, thờ Ông Bà Tổ Tiên), bờ cõi riêng được xác tín qua bài thơ sau đây của danh tướng Lý Thường Kiệt:
Tạm dịch :
Vua
Sách trời phân định biên cương rõ ràng.
Giặc nào dám tới hoành hành,
Tất nhiên đại bại tàn tành như tro.
Sự phân định bờ cõi cũng như xác định nền văn hoá Việt được Cụ Nguyễn Trãi hùng hồn nhắc lại trong bài “Bình Ngô Đại Cáo” sau khi dân tộc ta đánh đuổi quân Minh về nước:
Như nước Việt ta từ trước
Vốn xưng Văn Hiến đã lâu,
Sơn hà cương vực đã chia,
Phong tục Bắc
Nhìn qua sách vở viết bằng chữ Nho (Hán), hoặc nghiên cứu về các luật lệ, cách thức tổ chức triều đình xưa một số người ngoại quốc cho rằng người Việt chịu ảnh hưởng nặng nề văn hóa Trung Hoa. Đó là một điều sai lầm vì người Việt xưa kia chưa có chữ thì viết bằng chữ Nho, các triều đại xưa thấy đạo Nho của Khổng Mạnh có lợi cho vương quyền nên cũng bắt trước Trung Hoa trong tổ chức triều nghi, đặt ra các luật lệ theo chiều hướng ấy hoặc như vua Gia Long nhà Nguyễn đem gần nguyên bộ luật của Nãm Thanh ra áp dụng. Đó chỉ là bộ mặt của các vương triều, các bộ luật không ảnh hưởng đến hầu hết dân chúng vì 'Phép vua thua lệ làng'. Ngay cả các nhà Nho nổi tiếng về Hán học như các cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến… sau khi đỗ đạt thành danh thì lại qui ẩn nơi thôn dã sau lũy tre xanh, những tác phẩm để đời của những thi nhân này đều dùng thể thơ thuần Việt và ngôn ngữ Việt, lối sống dân giã ấy được các thi nhân thu gọn trong những vần thơ sau:
- Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.
Rượu đến gốc cây ta sẽ nhắp,
Nhìn xem phú qúi tựa chiêm bao.
(Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Hay:
Tựa gối ôm cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp đng dưới chân bèo.
(Nguyễn Khuyến)
Một học giả người Pháp khi đã nghiên cứu kỹ Văn hóa Việt
Văn hóa Việt không ghi trong sách vở, văn bia, không viết bằng ngòi bút mà 'viết' bằng một thứ ngôn từ rất huyền diệu được phổ biến và lưu truyền nhanh chóng. Trong bất cứ thời kỳ đen tối nào của dân tộc Việt, những câu ca dao hô hào lòng yêu nước hay phỉ báng quân thù không những không hủy tinh thần, văn hóa dân tộc mà còn phát triển mạnh hơn như thời quân Thanh sang xâm lăng ra lệnh cho người Việt phải kết tóc thành bím thả ra phía sau như một cái đuôi. Việc này họ đã thành công ở bên Tàu nhưng thất bại ở Việt
Trèo lên trên núi mà coi,
Kìa kìa Ngô khách mọc đuôi đàng đầu!
(Đây là lời nhạo báng rất nặng nề dành cho những kẻ xâm lăng).
Thời nay tục ngữ, ca dao vẫn đóng một vai trò quan trọng trong sự hình thành nếp sống của người Việt từ nông thôn tới thành thị và ngay cả cộng đồng người Việt ở nước ngoài mỗi khi muốn nói đến cách cư xử hay tập quán nào (như nghi lễ cưới xin) người ta vẫn dùng tục ngữ, ca dao để chứng dẫn.
Theo tác giả Phạm Hy Sơn
(Lucbat.com biên soạn)