Thứ ba, 26/05/2026,


Rủ nhau ta đến Hội chen Nga Hoàng (08/01/2010) 

Rất tình cờ, khi đọc thư ngỏ của Trần Mạnh Tuân gửi bạn Đức Trường, tôi gặp đoạn: “Bạn cứ đọc thơ của các tác giả thực thụ như bác Nguyễn Văn Chương ở mục Tác giả -Tác phẩm thì mới thấy chúng ta còn phải học rất nhiều bạn ạ”. Thú thực, tôi chưa đọc thơ của tác giả Nguyễn Văn Chương bao giờ. Theo lời giới thiệu này của anh bạn thơ mà tôi hằng quý mến, tôi thử vào trang của thi sĩ Bắc Ninh, quê hương quan họ, thăm một chuyến xem sao.

 

Vừa tới trang này, tôi đã gặp một ông già, người hao hao gầy, nhưng trông thật hiền lành và phúc hậu. Ở đây, ông không kể nhiều về mình mà chỉ giới thiệu những tác phẩm đã xuất bản, rồi  cho ta đọc mấy bài thơ ông mới viết. Với dáng dân dã của một ông già tuổi đã chạm ngõ “cổ lai hy”, ông đã đưa tôi vào thế giới của lục bát đồng quê, mà tưởng chừng khi nhà thơ Nguyễn Bính mất đi, tôi nghĩ khó lòng mà gặp lại. Tôi đã được đọc những vần thơ của ruộng đồng, của làng quê, của những đêm hội làng, đêm hội chèo...

Ở trang này, tôi đã gặp những cô gái thôn quê ngày xưa đến những cô gái thời nay đang đánh ghen, hứng dừa, và cả cô Tấm cũng hiện về trong cổ tích. Tôi gặp những chợ Dâu ngập tràn hàng Thái Lan, chợ Keo đầy rẫy hàng Trung Quốc. Tôi đã qua cổng làng với cây gạo già, cứ đến tháng ba lại thắp lửa trên bầu trời quê hương quan họ.

Tôi như được mời một bữa tiệc ngon, với bao nhiêu đặc sản ruộng đồng. Nó chẳng phải là cao lương mỹ vị, mà rất gần gũi với tuổi thơ tôi. Có một điều đặc biệt là từ cái nguyên liệu bình thường dân dã ấy, thi sĩ như người nấu bếp tài ba đã chế biến thành những món tuyệt vời.

Thường thì khi ngồi vào bàn tiệc, đầy ắp những món ngon, người ta muốn nhanh chóng được nếm, được hưởng những hương vị ngạt ngào đang bày ra trước mắt. Nhưng chính thế, chẳng khác nào Trư Bát Giới nuốt nhân sâm trường thọ, sẽ chẳng thể nào biết được món nào ngon, hay loại rượu nào say nồng. Dù muốn nếm ngay tất cả, muốn đọc ngay các bài thơ hay mà lâu rồi tôi mới gặp. Nhưng dằn lòng lại, tôi muốn nhấm nháp vị thơm của chén rượu Làng Vân, rồi từ tốn hưởng cái vị ngon của đặc sản Bắc Ninh… Rượu và Thơ, hai lĩnh vực vật chất và tinh thần thật khác nhau nhưng sao mà đồng điệu. Rượu ngon ta nhấm nháp càng chậm càng ngon. Thơ hay, ta đọc thật kỹ càng cảm thấy cái hay cái đẹp của nó. Vì món nào cũng ngon, nên món nào gần ta thì ta thưởng thức trước. Bài thơ nào cũng hay nên ta đọc bài đầu tiên.

Chùm thơ của Nguyễn Văn Chương, bài đầu tiên là bài “Hội Chen”. Nào, các bạn đọc thân yêu của tôi, ta cùng đọc bài thơ này:

 

HỘI CHEN

 

Cất ở nhà cái máu ghen

Rủ nhau ta đến Hội chen Nga Hoàng

Đêm nay tháo khoán cả làng

Cái Nường cái Nõn rộn ràng xôn xao

Lư trầm, hương án thì cao

Nẻo tình thì thực khát khao thì gần

Tối như bưng cả mắt Thần

Còn ai bắc cái đồng cân làm gì!

Trống tùng, chiêng cũng bi ky

Cái bao lỏng trước yếm thì tuột sau

Tay dài, chân cũng rướn mau

Xổ đâu khăn lượt, rơi đâu mất hài

Chen nhau thích cánh nghiêng vai

Mặc ai hổn hển, mặc ai thì thào

Sáo làm sương - sướng làm sao!

Hẳn rồi đồng trũng bãi cao được mùa

Hẳn rồi hồ lắm tôm cua

Hẳn rồi... đến Bụt trên chùa cũng say

Nhà gianh nhà ngói gì đây

Cả năm có một đêm nay... Tắt đèn!

 

 

Chắc trong chúng ta, có nhiều người đã đến chợ tình, hay chí ít cũng đọc nó trên các trang văn, thơ hay báo chí. Vào cái năm Sa Pa tổ chức kỷ niệm 100 năm ngày thành lập thì ở trên nhiều mặt báo ta dễ tìm đọc nó. Chợ tình có ở Sa Pa, Khâu Vai, chợ tình Mộc Châu, chợ tình Tam Lộng, chợ tình Đà Lạt… Chợ tình mơ mộng lắm, là nơi trai thanh gái tú, kể cả đã có vợ có chồng, đến nơi đây để mà hò hẹn, để mà tâm sự trong hương sắc của mùa xuân.

Ở vùng cao có chợ tình, còn dưới đồng bằng, trên quê hương quan họ lại có Hội chen. Đọc bài thơ, tác giả đã đưa ta vào hội. Đến đây, ta thật ngỡ ngàng, có điều gì phảng phất hương vị tình yêu na ná như ở chợ tình. Hương vị ấy không xa xôi mà thật là gần gũi.

Ai đã đi chen mua vé tàu xe hay chen mua hàng giá rẻ chắc hiểu thế nào là chen. Lúc này người với người chả còn kiêng nể, ý tứ, thẹn thùng... Thôi thì vai liền vai, tay liền tay, vải sát vải và thậm chí da sát với da. Hơi thở của người lạ bên cạnh phả vào má ta nóng hổi, và hơi người cũng rạo rực ấm nồng. Nhiều khi ta phải kêu lên rằng: 'Chen toát cả mồ hôi hột!”. Hội chen ở làng quê, đàn ông chen với đàn bà, trai thanh chen với gái tú và ngược lại, cũng gần gụi, cũng sát nhau. Thảo nào bao nhiêu người háo hức đi hội:

 

“Cất ở nhà cái máu ghen

Rủ nhau ta đến Hội chen Nga Hoàng”

 

Ở đây, Nga Hoàng là một làng quê ở vùng Quế Võ, Bắc Ninh. Mùa xuân là mùa giao hoà của âm và dương, của Trời và Đất. Hàng năm cứ vào ngày Mồng 7 Tết, làng lại tổ chức lễ hội. Hội chen không dành cho những người có cái máu ghen, vì đến đây ta gặp cái phóng khoáng của cuộc tình.

Ở Hội chen có màn “tháo khoán”, là thả sức tự do. Ngày còn bé, đi xem phim  mà không có tiền, tôi đã bao nhiêu lần xem “phim tháo khoán” ở bãi. Khi chiếu được nửa bộ phim, khi thấy khán giả vào cửa đã vãn, người ta mở cửa cho vào tự do. Thế là bọn trẻ con nghèo mê mải chạy vào bãi chiếu phim.

Tháo khoán ở lễ hội là cho mọi người được tự do đến với tình yêu. Người ta sẽ dẫn bạn tình vào những nơi mộng ước. Thự đấy mà tưởng chừng như ảo. Tác giả dùng cái chữ “tháo khoán cả làng “sao mà hay đến thế! Dân gian thường có câu khẩu ngữ: “hòa cả làng”, còn ở đây ta gặp “tháo khoán cả làng”. Tháo khoán ở đây ta hiểu là tháo cũi sổ lồng cho cõi lòng đang ấp ủ mộng mơ để tình yêu cất cánh. Những gì đau đáu bấy lâu nay, những tình yêu đơn phương, tình yêu ngang trái, yêu nhau mà chả lấy được nhau thì đến Hội chen ta sẽ có trong tay những điều mơ ước!

 

“Đêm nay tháo khoán cả làng

Cái Nường cái Nõn rộn ràng xôn xao”

 

Ở đây ta hiểu, “nõn” và “nường” là hai vật thiêng mà người ta thờ phụng, là tượng trưng cho sinh thực khí của đàn ông và đàn bà. Trong cuộc lễ, dân làng để nõn và nường làm bằng gỗ lên kiệu rước, có nam đồng quan và nữ đồng quan đi giật lùi trước kiệu vừa đi vừa hát “Ba mươi sáu cái nõn nường/ Cái để đầu giường, cái để đầu tay”. Lễ hội này, cũng diễn ra ở một vài nơi như làng La, Hà Đông, làng Khúc Lạc, Phú Thọ. Ở đây, người ta tế lễ cầu cho sự sinh nở, âm dương giao hòa, cho mùa mành tốt tươi, thu hoạch bội thu.

Khung cảnh Hội chen đã hiện ra:

 

“Lư trầm, hương án thì cao

Nẻo tình thì thực khát khao thì gần

Tối như bưng cả mắt Thần

Còn ai bắc cái đồng cân làm gì!”

         

Đọc câu thơ trên, ta nghĩ về lễ hội. Ngày nay, nhiều lễ hội, phần lễ thì ít, phận hội thì nhiều. Ở đây, lư trầm hương án là phần lễ, còn cái nẻo tình thì vui như hội, nó rất thực và gần gũi. Đọc câu: “Nẻo tình thì thực, khát khao thì gần” nó mới “đời” làm sao, thực làm sao.

Trong Hội chen, bao nhiêu người đến với nhau. “Họ xô đẩy nhau, giằng co nhau, lẫn lộn vào nhau, bật nhau ra một góc giếng hay bờ tường, gốc cây hay lối rẽ... Nhưng tất cả chỉ có tiếng cười như một thứ nhạc nền hiện đại mà không hề có tiếng la ó tục tằn. Cứ như là đã có sự sắp đặt, hẹn hò từ trước, có tiếng gọi của con tim, là tình yêu, là sự kết đoàn, là hoà hợp, vui vẻ, là tâm linh để cầu cho mưa thuận gió hoà, âm dương kết hợp, làng xóm tươi vui... Cuộc chen xảy ra như một cơn giông vội vã, biết đâu, chỗ nào, ai kia, bàn tay chẳng chạm sát, hương má hồng ửng đỏ chẳng kề bên tấm vai vạm vỡ người con trai mơ ước... Chen trong cái thế chủ động mà lễ phép, chen trong niềm hân hoan của người chen và người được chen... Sôi động xóm làng, không ai, không gì ngăn được.'  

         Ngày Hội thường diễn ra khi đang  tiết đầu xuân, trời về đêm thường tối. “Ở hội chen, lúc gái chen nam, rồi nam chen nữ, rồi nữ làng chen khách thập phương là nam giới... cho đến đêm rằm, cuộc tế lễ và rước thần kết thúc tại miếu nữ thần... thì còn thêm tục tắt đèn, giống như đêm rã đám làng La...” (Hà đông). Khi ánh đèn bị tắt, đêm về về khuya trời tối sẫm, như che cả mắt Thần. Ở cái nơi này, thì ai còn chấp làm gì nữa. Thế là tay lại tìm tay, má tìm má và môi lại tìm môi. Và chính nhờ vậy, phần hội mới ồn ào hấp dẫn hơn phần lễ.

            'Tắt đèn bao lâu, tàn một tuần nhang chăng, những gì rì rầm, sống động trong bóng tối đầy khí dương hoà xuân mới, chúng ta sinh sau, chỉ tưởng tượng chứ không kịp dự... nhưng có cụ kể lại rằng những đêm tắt đèn ấy, nhỡ ra có ai nên vợ nên chồng sớm thì làng cũng không ngả vạ, mà còn giảm một nửa số tiền nộp treo cho làng, như ngầm nói đó là do thánh thần phù hộ xe duyên...'

Khi đã tháo khoán, như chim được tháo cũi sổ lồng, tình yêu đã cất cánh, để rồi trống đánh thì chuông cũng hoạ theo. Chàng thả tình thì em đón nhận, chàng nồng nhiệt thì em cũng nhiệt tình… Tác giả đã tả thực mà như mơ cái cảnh:

 

“Trống tùng, chiêng cũng bi ky

Cái bao lỏng trước yếm thì tuột sau

Tay dài, chân cũng rướn mau

Xổ đâu khăn lượt, rơi đâu mất hài

Chen nhau thích cánh nghiêng vai

Mặc ai hổn hển, mặc ai thì thào'

 

Đúng là hội chen. Đã chen nhau thì áo xống xộc xà xộc xệch là lẽ thường tình. Cái khăn, cái hài bị xổ, bị rơi là điều tất yếu. Hội chen phải thế, chứ cứ đi nhẹ nhàng, không va chạm vào nhau thì đâu còn cái hấp dẫn của hội chen. Những cái chen lấn, xô đẩy ở chỗ khác thì là không văn hóa, nhưng ở đây lại là cho phép. Những cái bao (theo tôi hiểu thì cái này là cái thắt lưng mà ngày xưa các bà các chị hay thắt khi mặc áo tứ thân, có nơi còn gọi là ruột tượng, dùng để đựng tiền, nên còn gọi là hầu bao. Khi thắt , thường để hai dải dầu khăn buộc chùng về đằng trước), cái yếm bị lỏng bị tuột, nghe thật là gợi cảm. Lại đây nữa:

 

“Chen nhau thích cánh nghiêng vai

Mặc ai hổn hển, mặc ai thì thào”

 

Đến câu này thì đã rõ mồn một là tình yêu chứa đựng bấy lâu đã được mãn nguyện. Khúc ca tình yêu đã vang lên tột đỉnh. Nó bùng nổ, nó cháy lên niềm khát vọng đã được đáp đền. Để rồi lửa tình đốt cháy lên niềm yêu cuộc sống, mang lại niềm vui sướng bất tận trong mỗi con người.  Sướng đễn nỗi người đi hội phải thốt lên đến líu cả lưỡi, đến phải nói nhịu: “Sáo làm sương - sướng làm sao!”. Sướng này là sung sướng của đời thực, làm cho người ta yêu nhau hơn, thương nhau hơn để đùm bọc nhau trong cuộc sống. Chính vì vậy, cuộc sống sẽ tốt đẹp hơn cả về vật chất lẫn tinh thần. Khi tình yêu có đơm hoa kết trái, sinh sôi nảy nở, thì người ta tin rằng, sau Hội chen, trời sẽ mưa thuận gió hoà, cỏ cây tươi tốt, nhà nhà được mùa:

 

“Hẳn rồi đồng trũng bãi cao được mùa

Hẳn rồi hồ lắm tôm cua

Hẳn rồi Bụt ở trong chùa cũng say”

 

Mưa thuận gió hoà, mùa màng bộ thu là điều mong ước của người nông dân. Nắng mưa là việc của Trời, ta không thể biết. Nhưng có điều ta biết chắc chắn là sau Hội chen, dân làng đã được Mùa tình. Ta hãy nghe câu kết của bài thơ:

 

“Nhà gianh nhà ngói gì đây

Cả năm có một đêm nay... Tắt đèn!”

 

Câu thơ mới hay làm sao, quyến rũ làm sao. Thực ra, câu này là phát triển từ câu tục ngữ: “Tắt đèn nhà ngói cũng như nhà tranh” nhưng tác giả đã thơ mộng nó, mềm mại và ẩn dụ nó ở đây thật hợp tình, hợp cảnh.

           Đã lâu nay, tục chen gần như đã mất, nó chỉ còn trong dĩ vãng. Nhưng những gì các cụ kể lại thì Hội chen vẫn là một điều thú vị về hương sắc làng quên Việt Nam.

Đọc thơ ông, tôi nhớ lại chất Nguyễn Bính trong bài thơ Hội làng:

 

“Hội làng mở giữa mùa thu
Trời cao, gió cả, trăng như ban ngày.
Hội làng còn một đêm nay
Gặp em còn một lần này nữa thôi…”

 

Chất thơ Nguyễn Văn Chương là thơ lục bát đồng quê truyền thống. Tôi xin mượn lời của bạn đọc để nói về thơ của ông. Tôi tâm đắc với câu nhận xét của huybg09: “Đọc thơ lục bát của bạn(?) thấy nổi gai gà gai ốc... Và cái chất đồng quê sao nó cứ rân rấn trong lòng... Chất quan họ nó cứ lúng liếng trong mắt ai, tươi rói nụ cười thơm thảo chất trầu quế...”. Tôi đồng cảm với bác Nguyễn Đức Tùy, một nhà giáo về hưu ở Phú Thọ: “Đây là lần đầu tiên tôi đọc thơ của bác Nguyễn Văn Chương. Thơ lục bát của bác thật là nhuần nhị, nối vần rất nghiêm túc chuẩn mực, đáng để cho những người đang tập làm thơ lục bát chúng ta học tập. Lời thơ thì rất trong sáng, ý tứ rõ ràng, hình tượng sinh động dễ đi vào lòng người đọc. Chất hóm hỉnh trong thơ của bác cũng rất nhiều”. Ngay cả anh bạn tôi, Trần MạnhTuân, thày giáo trên giảng đường đại học, cũng phải thốt lên: “Đọc thơ của bác, em thấy mình còn phải học rất nhiều mới có thể làm thơ lục bát được. Thơ của bác thật tài tình, tinh hoa và cũng rất nhuần nhị và đậm chất quan họ, dân ca, rất tâm hồn Việt.”

Bài thơ Hội chen của Nguyễn Văn Chương là một bài thơ hay. Tôi chỉ sợ rằng lời cảm nhận của mình còn nông cạn, nói chưa hết nhẽ, chưa nói hết được cái hay cái đẹp của bài thơ. Nhưng thú thực, tôi đã nói bằng những tình cảm chân thành và quê mùa của mình với bài thơ và tác giả mà tôi yêu thích.  

 

PHẠM THANH CẢI

Viện Kỹ Thuật Hải Quân, Hải Phòng

Email: phamthanhcai@gmail.com - ĐT: 01696306682

-----------------------------------

Xin mời nhấn vào đây để tìm hiểu thêm về tác giả Nguyễn Văn Chương

Chia sẻ:                   Gửi cho bạn bè
Mỗi độc giả cũng là một tác giả
(Mời bạn cho ý kiến, cảm nhận và lời bình sau khi đọc bài viết trên)
Họ và tên  *
Địa chỉ  *
Email  *
Điện thoại  *
Nội dung (bạn cần sử dụng font chữ Unicode, có dấu; ghi đầy đủ họ tên, địa chỉ, email, điện thoại,... Nếu thiếu các thông tin đó, có thể chúng tôi sẽ từ chối cho hiển thị
 
  Nguyễn Thu Huyền - thuhuyen0910@yahoo.com - 0913020176 -  Hưng Hà, Thái Bình  (Ngày 22/01/2010 03:17:01 PM)

Bài Hội chen Nga Hoàng của Nguyễn Văn Chương thật là hay, mang tính đồng quê nhẹ nhàng mà sâu lắng. Bài bình của Phạm Thanh Cải thật sâu sắc, đã giúp cho người đọc hiểu thêm rất nhiều về Hội chen, Tác giả tỏ ra có hiểu biết rất sâu rộng vầ các phong tục, hội hè làng quê Việt Nam.
Người làm thơ đã hay, người bình càng hay.
Xin cảm ơn cả hai tác giả.

Các bài khác: