Chương ba
*
TÍNH DÂN GIAN VÀ HIỆN ĐẠI TRONG THƠ LỤC BÁT VỀ ĐỒNG QUÊ
CỦA NGUYỄN DUY VÀ ĐỒNG ĐỨC BỐN
1. Ngôn ngữ
1.1. Ngôn ngữ của đời sống và ngôn ngữ của ca dao
Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn không chỉ là những người đóng góp thành tựu mà còn được coi là những đại diện tiêu biểu cho thơ lục bát Việt
Những thán từ, tình thái từ… được sử dụng nhiều trong thơ lục bát Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn thêm lần nữa khẳng định tính khẩu ngữ và tiếp nối ca dao của thơ ca hai nhà thơ này. Ngoài những ngôn từ vốn đã quen thuộc từ lâu, còn có nhiều lời ăn tiếng nói mà chỉ ở cuộc sống thời hiện đại mới có (Được yêu như thể ca dao).
1.2. Cách nói quê, lề lối quê
Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn là những người làm thơ lục bát nhuần cách nói quê, lề lối quê. Trong thơ Nguyễn Bính và nhiều tác giả đồng quê trước đây, điệu nói đã chiếm một vị trí khá quan trọng. Càng về sau này, điệu nói càng được sử dụng tăng lên cả ở số lượng và chất lượng. Đến Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn, thơ điệu nói đã trở nên khá linh hoạt (Thi sĩ B - Nguyễn Duy; Đám cháy rừng - Đồng Đức Bốn). Rồi cách sử dụng những câu hỏi rất thật, rất quê, những thành ngữ, tục ngữ hay nói theo lối thành ngữ, tục ngữ...đều thể hiện lề lối quê khá rõ ở thơ lục bát hai tác giả này.
2. Giọng điệu
Giọng điệu là sự hoà hợp giữa nội dung cảm xúc và hệ thống chất liệu, mà trước hết là hệ thống sắc thái ngữ điệu. Như thế, giọng điệu là sự hoà hợp, đan xen, thẩm thấu của nhiều yếu tố khác nhau trong cùng một thi phẩm. Thơ ca dân gian Việt
2.1. Điệu than
Thơ lục bát của Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn đều có âm hưởng của điệu than, nhưng nếu đem ra so sánh, ở thơ lục bát của Đồng Đức Bốn, điệu than được sử dụng nhiều hơn và ở một cung bậc đậm đà hơn thơ lục bát Nguyễn Duy. Trong thơ Nguyễn Duy, lời than không đau đớn, da diết đến quặn lòng như lời than trong thơ Nguyễn Bính và Đồng Đức Bốn. Nhưng đó cũng là lời than vãn của một người quê mang nặng tâm sự. Kể và than trong thơ ông đã hoà quyện, đôi lúc khó có thể tách bạch (Lạng Sơn, 1989; Về làng). Trong Đồng Đức Bốn tồn tại một nghịch lí: vừa yêu đời, vừa chán chường trước những biến động, những xoay vần của thời đại. Giọng thơ ông thường trầm buồn, day dứt, quặn xé lòng người. Nhà thơ thương cho chính cuộc đời nhiều biến động, gian nan của mình (Đời tôi).
2.2. Điệu ghẹo
Nhìn nhận một cách khách quan, nếu như Đồng Đức Bốn trong thơ lục bát than nhiều hơn Nguyễn Duy thì ở phạm vi này, Nguyễn Duy lại ghẹo nhiều hơn Đồng Đức Bốn (Trên sân trường, Xẩm ngọng). Tuy nhiên, trong ghẹo ấy chúng ta vẫn nhận ra giọng than chất chứa sự xót xa, buồn thương sâu lắng. Đó mới chính là giọng điệu của một thi sĩ quê mùa đích thực. Trong lục bát Đồng Đức Bốn cũng có ghẹo. Đó là cái ghẹo thấp thoáng từ trong những lời than. Cái ghẹo chứa đựng sự hoang mang, đau đời nhiều hơn là đùa vui hóm hỉnh. Ghẹo ở thơ Đồng Đức Bốn thường pha chút ít sự liều lĩnh, ngang tàng của con người qua nhiều thăng trầm, biến cố (Hoa dong riềng).
Giọng ghẹo trong thơ lục bát Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn là giọng điệu của những con người quê. Trong giọng điệu ấy còn pha chút bụi bặm, lãng tử của những con người nghệ sĩ thời hiện đại khi đã từng qua nhiều lận đận của cuộc đời. Giọng ghẹo ấy ít khi thuần chất mà thường pha lẫn với xót xa, nhớ thương. Than và ghẹo đã đan xen, hô ứng và làm nên những giá trị thơ đặc sắc. Là giọng điệu tiêu biểu cho thơ lục bát Việt
3. Lục bát quê mùa: Những đổi mới và cách tân trong thơ lục bát Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn
3.1. Qui mô, cấu trúc khổ thơ, bài thơ
Bên cạnh những kế thừa, thơ lục bát Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn vẫn có nhiều cách tân mới lạ. Nhiều khổ thơ trong các bài lục bát của Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn chỉ gồm có hai câu thơ, tức là một cặp sáu - tám. Mỗi cặp thơ như vậy lại có nội dung tương đối độc lập, giống như những bài ca dao (Lời ru con cò biển - Nguyễn Duy; Sông thương ngày không em - Đồng Đức Bốn). ở phạm vi bài thơ, những bài lục bát của Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn thường ở qui mô vừa và nhỏ, có khi là cực nhỏ. Lục bát trong văn học viết trước đây thường dài. Ngắn gọn hoá dung lượng bài thơ lục bát là một biểu hiện của sự hiện đại hoá trong thơ lục bát Việt
Trong thơ lục bát, Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn còn có lối bắt vần nối tiếp từ câu thơ tiêu đề. Câu thơ đầu tiên của bài thơ vì thế cũng là tiêu đề của bài thơ. Mới nhìn, chúng ta dễ lầm tưởng đây là những bài lục bát biến thể bắt đầu từ câu bát (Đám mây dừng lại trên trời - ND; Thăm mộ Nguyễn Du, Cuối cùng vẫn còn dòng sông - ĐĐB).
Thơ lục bát hiện đại có nhiều bài kết thúc theo lối mở. Dấu hiệu nhận biết thường là các dấu câu đặc biệt. Tiêu biểu là dấu hỏi, dấu ba chấm và dấu chấm than. Lục bát Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn đã kế thừa trọn vẹn những cách tân ấy (Bát nước ngô - ND; Ngõ nhỏ mưa dầm - ĐĐB).
3.2. Ở cấp độ câu thơ
3.2.1. Về ngắt nhịp
Từ thơ lục bát Nguyễn Duy đến thơ lục bát Đồng Đức Bốn đều tuân thủ theo lối ngắt nhịp của lục bát truyền thống. Cách ngắt nhịp này phần nào tạo nên âm hưởng ca dao trong thơ của hai tác giả đồng quê. Bên cạnh những kế thừa, cách ngắt nhịp trong thơ lục bát Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn cũng có nhiều khác lạ. Là những đổi mới trong tư duy thơ. Những đổi mới đó là sự làm giàu thêm cho lục bát truyền thống chứ hoàn toàn không phải là sự vẫy vùng chối bỏ những giá trị đã có. Từ những cung bậc tình cảm khác nhau, họ tạo ra nhiều cách ngắt nhịp linh hoạt trong các bài thơ lục bát của mình. Có thể kể ra đây một số cách ngắt nhịp tiêu biểu, phổ biến trong thơ lục bát của ông. Cách ngắt nhịp 1/5; 1/7, 2/6…(Ca dao vọng về, Nét và hình - Nguyễn Duy; Cái đêm em ở với chồng - Đồng Đức Bốn).

3.2.2. Về gieo vần
Riêng về gieo vần trong thơ lục bát, Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn đã triệt để tận dụng những thành tựu của lục bát truyền thống. Gieo vần bằng tại tiếng thứ sáu của câu lục, tiếng thứ sáu và tiếng thứ tám của câu bát. Trong lục bát Đồng Đức Bốn vẫn có hiện tượng gieo vần ở tiếng thứ 4 nhưng chỉ là hiện tượng đơn lẻ. Thực ra, hiện tượng này đã có ở thơ lục bát từ trước Truyện Kiều. Đó là cách gieo vần ở tiếng thứ tư câu bát (Tận cuối cơn mưa).
3.2.3. Về phối thanh
Về cách phối thanh, cả hai nhà thơ luôn có ý thức tuân thủ truyền thống nhưng cũng có nhiều sáng tạo riêng. Để thơ mình trở nên mới lạ, có sức hấp dẫn hơn, họ cũng cố gắng tận dụng tối đa sự tự do của các tiếng không qui định bằng - trắc cố định. Lục bát Nguyễn Duy luôn có số thanh trắc ngang bằng hoặc nhiều hơn thanh bằng. Sự đan xen hay thiên lệch ấy luôn cho thấy chất tình tang, chất bụi, chất ghẹo trong thơ ông (Áo trắng má hồng). Lục bát của nhà thơ Chăn trâu đốt lửa có vẻ hợp hơn với giọng trầm buồn, day dứt, đôi khi là tâm trạng nặng nề của con người qua nhiều gió sương chìm nổi với sự lấn áp của những thanh bằng (Chín xu đổi lấy một hào).
1.2.2. Vài nét về thời gian nghệ thuật trong thơ lục bát Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn.
Trong thơ lục bát của Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn, thời gian hiện lên trong thơ họ trước hết là thời khắc khách quan, khắc hoạ theo những cách riêng, mang cá tính, cảm xúc mỗi tác giả. ở thơ lục bát hai tác giả này, chúng ta dễ nhận ra cách cảm nhận thời gian quen thuộc của những người dân quê. Người dân quê có thói quen lấy đời người với những tần tảo, lo toan làm thước đo thời gian riêng (Người cha - Nguyễn Duy; Ở quán bán thịt chó về chiều - Đồng Đức Bốn).
Những người dân lao động nông nghiệp là những người biết coi trọng, nâng niu quá khứ, ngày xưa, thuở trước. Trong thơ ca Việt
-----------------------------
Tác giả Phạm Mai Phong
Trích luận văn: Chất đồng quê trong thơ Lục bát Việt
(Qua thơ Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn)