Hay tin chuyến ra Bắc đón hài cốt phụ thân của vợ tôi về Nghĩa trang Liệt sĩ Bà Rịa - Vũng Tàu, nghệ sĩ nhiếp ảnh Ngọc Kỳ liền “phôn” và hỏi: “Khi nào các em về?”. Tôi thưa với anh sẽ về cuối tháng Tư. Anh vui lắm, và nói: “Bạn hữu ở quê mong vợ chồng em đấy. Nguyễn Vĩnh, em có nhớ không, “hắn” cứ vài ngày lại giục anh a lô cho em hỏi ngày nào hai em sẽ về”.
Với sự chu đáo của anh chị Lê Duy Hoà, các bạn Ma Văn Kỳ, Phạm Thanh Khương, Nguyễn Mạnh Thắng, Nguyễn Đạo, Nguyễn Thành Thái… cái công việc hệ trọng của vợ chồng tôi trôi chảy ngoài cả sự mong đợi. Chúng tôi hạnh phúc tụ họp bên nhau ở nhà hàng anh Phê, ven sông Hồng vào một ngày cuối tháng Tư ngút ngát gió lành. Hàng chục người bạn của vợ tôi từ thuở “con chuyền, cái chắt” hay tin, xa mấy, bận mấy cũng về. Cuộc hội ngộ mà đời người phỏng có lần thứ hai không?! Sau những giây phút lòng như oà vỡ, chúng tôi tay cầm tay, cồn cào trong bao câu chuyện không biết đầu là đầu là cuối. Thấy tôi nhìn quanh, anh Ngọc Kỳ cười, bảo: “Ngóng Nguyễn Vĩnh chứ gì? Lão ấy sẽ đến ngay bây giờ, sẽ cho ông em “khai vị” vô số những bài thơ tình là cái chắc. Cái “món” ấy sẽ ngào ngạt hương vị Nguyễn Vĩnh, tin anh đi…”. Vâng, với Nguyễn Vĩnh - ông anh lắm tài và đa tình của tôi, như anh Ngọc Kỳ nói “viết như lên đồng” ở tuổi “Lục thập hoa giáp” thì quái chiêu thật.
Bữa cơm bạn hữu vừa được anh Phê bày trang trọng thì Nguyễn Vĩnh đến. Vẫn thế. Khoáng đạt và sôi nổi như thể dấu vết tháng năm trôi qua ai chứ đâu có qua anh. Cái đôi mắt cười có đuôi kia dẫu có vơi đi chút chút sự lẳng thuở tráng niên, nhưng xem ra ông anh tôi còn ngon lành chán. Anh nhìn ngắm vợ chồng tôi rồi nheo mắt: “Các em thấy anh thế nào?”. Tôi bảo vẫn oách. Anh ôm chầm lấy tôi và nói nhỏ: “Già rồi, ắt là già rồi, cũng là gồng lên cả thôi”. Choàng qua vai anh, tôi cảm nhận ít nhiều vết thời gian không giấu được, ở lưng lửng vùng bụng đâu còn thon gọn nữa. Đã chừng 25 năm chúng tôi xa nhau, chả lẽ không xuống mã ở chỗ này chỗ nọ, có mà là người giời! Hăng hái vung tay trước các bạn bè, anh phấn khởi: “Đón vợ chồng chúng nó, tớ đề nghị cho tớ đọc thơ… Nguyễn Vĩnh”. Và không chờ ngớt tiếng vỗ tay, anh đọc một sê- ri thơ tình của mình. Tôi ngẩn người trước những câu thơ phát tiết, hào hoa. Ngừng đọc, anh dúi vào tay tôi một tập bản thảo và bảo: “Đọc kỹ đấy nhé. Một phần những buồn vui của anh được ghi cả ra đây”. Cái cách anh nói vẫn sôi nổi, đầy khoan khoái, trẻ trung như Nguyễn Vĩnh ngày nào. Nguyễn Vĩnh quả là luôn đáng yêu và … thú vị.
***
Tôi đọc thơ Nguyễn Vĩnh như bập vào góc “mâm cỗ lục bát” rưng rưng hồn ca dao, dân ca:
Bỗng dưng sầm sập mưa rơi
Bỗng dưng gió dập tơi bời cánh hoa
Bỗng dưng hiện
Bỗng dưng nhòa
Bỗng dưng em đến vỡ oà cơn say
(Bỗng dưng)
Thật đa cảm và cũng thật ngọt ngào. Thì ra, 25 năm xa anh, giờ tôi bỗng nhận ra một Nguyễn Vĩnh tài hoa muộn nở nhưng nào có kém người. Thơ ca thật lạ kỳ, có khối anh vật vã với điệu vần thi tứ mà chung cục bỗng chốc chữ nghĩa lao tâm khổ tứ là thế bỗng vụn vỡ như bụi cát. Có những người bước vào thơ như đoá thơm nở muộn lại chả dễ quên hương. Các bậc thi bá tổng kết rằng hễ người sống thế nào thì thơ tương tự vậy, đố có trốn đi đâu được. Nguyễn Vĩnh vốn là người bặt thiệp, đầy chất lãng tử và rất hào hoa, có phải thế mà khi tôi đọc thơ anh, thấy cái “ chất” trong thơ cũng chính là anh vậy.
Này đây:
Thiên hà đậu giữa lòng tay
Mà sao vô tận tháng ngày đi qua
(Bài trên)
Tôi, một người thờ Thơ như đạo, bởi thế sau bao nhiêu năm tìm và đọc, tôi nghiệm rằng, những câu thơ hay, những câu thơ có cánh trì bám vào lòng người luôn được các thi tài viết thành công ở những khoảnh khắc, những sát - na vút lên từ thăm thẳm vô thức. Những thi sĩ có thực tài mới làm chủ được những câu thơ và cách viết giản dị, trong vắt như sương mai. Mà, từ trong ẩn ngữ biểu đạt kia, cái ta gọi là ma lực của chữ nghĩa, ma lực của câu thơ, nhiều hơn là ma lực của một bài thơ (thậm chí còn là ma lực của một giọng điệu v.v.) ám ảnh người đồng điệu thật khó lý giải.
Nguyễn Vĩnh sinh ra ở Thị xã Phú Thọ, cái thị xã tao nhã, nhỏ xinh, đẹp dịu dàng tựa một bức tranh thuốc nước nhuần một gam son non trên nền xanh mê miết. Có thể chính vì thế, trong miền thơ nhiều âm giai của thơ anh, hồn thiêng Trung du khi ẩn ở góc này, lúc tươi tắn tung tẩy ở trang chữ khác:
Người đi Xoan Ghẹo đi cùng
Cuối buồn văng vẳng bập bùng trống quân
Thế nhân dù có phong trần
Bể dâu vẫn giữ nét xuân quê mùa
(Điệu quê)

Thơ Nguyễn Vĩnh là thơ hướng nội. Anh viết không cầu kỳ, lấy tứ, lấy tình làm nốt nhấn cho những giai điệu anh, không sa vào hào nhoáng giả ngôn thường nhan nhản trong các “ ông thơ” chữ rối, triết luận nhàm. Thơ anh phảng phất hồn ca dao, dân ca, và vì thế dung dị và tươi tắn.
Vẫn biết thơ lục bát dễ viết nhưng viết hay và độc đáo thì khó vô chừng. Với Nguyễn Vĩnh, lục bát là thế bền của anh. Cả 30 bài thơ tôi đọc trong “Thắp lại mùa tôi” đều là thơ lục bát. Tôi rất yêu những câu thơ anh viết bằng gịong dịu buồn, nhuần nhị, không kiểu cách, nhiều đa cảm.
Ví như:
Đi tìm đã mấy mùa nhau
Tôi - hoang - hồn - khát cơn ngâu cuối mùa
Ta thiếu ta giữa đời thừa
Thế gian hành khất cơn mưa hữu tình
(Tự vấn)
Hoặc:
Mưa thu ướt nửa trái hôn
Nửa khô cất tận đầu nguồn cơn mê
Đáng gì đâu một câu thề
Mà sao đắng ngắt môi tê lỡ làng
(Giọt thu)
Rồi đây nữa:
Cây mê nở một đoá mê
Vẫn mơ nghi ngút lối về rạ rơm
Hương thầm gom chụm mà thơm
Vắt từ ruột đất hạt cơm quê mùa
(Màu thời gian)
Với riêng tôi, những câu thơ như thế của anh là những câu thơ được viết tài tình, đẫm tư chất và phẩm cấp thi sĩ. Có lẽ cái nhận định sơ lược này không sợ bị mắng vốn hoặc coi là quá lời.
Chừng bảy, tám năm về trước, tôi đã đọc tập “ Đêm trắng” của nữ sĩ Vương Tuyết Mai. Tôi vẫn nhớ những câu thơ nhẹ nhàng nhiều đa cảm của chị: Không dưng nhớ suốt cả ngày/ Giận tơ con nhện giăng ngay vào mình/ Khi xưa ghét thói đa tình/Bây giờ mình cũng xiêu đình…lạ chưa. Một Vương Tuyết Mai vốn là bác sĩ trước khi thành thi sĩ và một Nguyễn Vĩnh nguyên là một thầy giáo dạy toán đều in dấu trong những câu thơ thấm đẫm phong vị dân ca, ca dao. Ta nên lý giải thế nào? Chả cần lý giải gì cả! Thơ vốn sinh ra từ những khoảnh khắc phiêu linh, sinh ra bởi những trái tim đầy ắp tin yêu và mẫn cảm. Tất nhiên, thơ cũng sẽ sinh ra từ những uẩn nhẫn và vô vàn lý do khác nữa. Và như thế, xin thưa cùng Nguyễn Vĩnh, với tôi, thơ anh đang tươi nở, rồi sẽ tới được lòng người. Tôi xin cảm ơn những ngày tháng Tư quý giá, không những tìm lại được anh, có thể còn là hạnh phúc nhiều hơn khi được đọc Thắp Lại Mùa Tôi nhiều ánh lửa!
Đêm Hà Nội, tháng 6.2009
Hoàng Quý