Thứ ba, 26/05/2026,


Chất đồng quê trong thơ Lục bát Việt Nam hiện đại (Phần 2) (23/06/2009) 

Chương hai

*

CẢNH QUÊ VÀ TÌNH QUÊ TRONG THƠ LỤC BÁT
NGUYỄN DUY VÀ ĐỒNG ĐỨC BỐN

 

 

1. Cảnh quê trong thơ lục bát Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn

1.1. Cảnh quê đượm hồn quê trong thơ ca Việt Nam

 

Làng quê đi vào thơ văn từ bao đời nay và làm nên không ít những giá trị đặc sắc. Làng quê hiện lên trong thơ ca Việt luôn là những hình ảnh giản dị, mộc mạc, nghèo khó nhưng giàu truyền thống văn hoá. Nơi ấy, con người gắn bó nghĩa tình với nhau, văn hoá làng thôn đã trở thành nét văn hoá không thể thiếu trong đời sống xã hội Việt Nam. Nhiều nhà thơ Việt đã thành công khi khắc họa nét mặt quê hương như Nguyễn Bính, Hoàng Cầm...: Quê hương là gì hở mẹ/Mà sao cô giáo dạy phải yêu (Quê hương - Đỗ Trung Quân); Quê hương ta lúa nếp thơm nồng/ Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong/Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp…(Bên kia sông Đuống - Hoàng Cầm)...

 

1.2. Cảnh quê trong thơ lục bát Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn

1.2.1. Bức tranh với những hình ảnh đượm chất đồng quê

 

Thiên nhiên đồng quê trong thơ lục bát Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn hiện lên trước nhất với hình ảnh của những khu vườn quê, những cánh đồng quê có những đặc trưng riêng mang cảm xúc, tâm hồn quê mùa của thi sĩ. Đó là cây tre, cây bồ kết cây mận…Vườn quê là nơi khơi lên những cảm xúc từ trong sâu thẳm tâm hồn tác giả. Không chỉ yêu, nhà thơ còn say mê đối với đồng quê.. Họ thường cảm nhận và đưa vào thơ lục bát của mình những gì đời thường, mộc mạc, đôi khi là nhỏ bé thoáng qua nhưng lại mang giá trị sâu sắc. Đó là những hình ảnh được kế thừa từ thơ ca truyền thống dân tộc nhưng cũng là những hình ảnh mang sắc diện mới mẻ của cuộc sống đô thị hoá thời hiện đại (Cỏ dại, Nhớ bạn, Hoa lúa, Hoa dại - Nguyễn Duy; Về lại chốn xưa; Đi qua bến lở sông bồi - Đồng Đức Bốn).

 

Lục bát Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn ngoài sự bình dị, mượt mà còn gợi ra sự gai góc, sắc nhọn của những chìm nổi đời người. Đặc điểm này nổi bật hơn ở thơ Đồng Đức Bốn. Có lẽ vì thế mà gai quê là một hình ảnh lặp lại nhiều lần trong thơ lục bát của nhà thơ. Những cây bồ kết lắm gai, những hoa có gai, bụi tre gai, rồi xéo gai, gai rào ngõ quê… là những gì mang đậm sắc thái quê mùa. Trước những gai góc sắc nhọn của cuộc sống hiện đại, nhà thơ vẫn muốn dấn thân vào để thử thách bản lĩnh của mình: Xéo gai anh chẳng sợ đau/ Bởi yêu ruộng lúa vườn cau trước nhà.

 

Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn quan niệm, cái làm nên cá tính, bản lĩnh, sức mạnh của con người trong cuộc sống ngày hôm nay phần lớn là ở cái hồn quê, ở những giá trị truyền thống ngàn đời kết tinh trong mỗi người quê. Qua hình ảnh những con vật, Nguyễn Duy quan niệm, những gì là truyền thống, là văn hoá sẽ mãi mãi lưu dấu, lâu mà không cũ, xưa mà không nhàm (Khúc dân ca I; Khúc dân ca II). Thảng đôi lúc, trong những giây phút tĩnh lặng của đời người, nhà thơ vẫn nơm nớp lo sợ sự đổi mới ấy sẽ phá vỡ đi những gì chân thật, giản dị nhất của làng quê (Lời ru con cò biển).

 

Trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn, thế giới những con vật cũng là những hình ảnh thơ đặc sắc. Những hình ảnh ấy đều mang theo vào thơ sự day dứt, hoang mang  như đang chìm trong một cơn khủng hoảng về lối đi, cách sống. Đó phải chăng chính là trạng thái tâm hồn tác giả (Đi đò; Chuồn chuồn cắn rốn biết bơi; Vỡ đê).            

                                                                       

Một hình ảnh của thiên nhiên được nhắc tới rất nhiều trong thơ của nhiều thi sĩ, đó là hình ảnh của con sông quê hương. Đó là những dòng sông nơi quê hương nhà thơ hoặc trên các miền đất mà họ đã đi qua. Những dòng sông mang danh hoặc không mang danh cụ thể vẫn mang cảnh vật của muôn đời quê kệch nhưng ít nhiều đã chứa đựng sự vật vã của cuộc sống mới (Chiều mận hậu; Hàng châu; Sông Cấm - ND; Sông Thương; Viết ở bờ sông - ĐĐB). Con sông còn là hình ảnh để nhà thơ thể hiện niềm tin hi vọng, thể hiện bản lĩnh con người mình. Cùng nói về sông quê trong thơ lục bát của mình, nhưng Nguyễn Duy thiên hơn về miêu tả cảnh vật. Những tâm sự gửi gắm vào đó có phần nhẹ nhàng, kín đáo hơn trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn.

 

Trong thơ lục bát của Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn, còn phải nhắc tới hình ảnh núi non, rừng đồi. Nguyễn Duy từng là một người lính từng hành quân qua nhiều khu rừng thời chiến tranh, bằng tâm hồn nhà quê tinh tế, nhà thơ nhận ra nét đẹp, sự bí ẩn và cả sức mạnh của rừng (Trăng; Nắng). Khác với Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn thường khắc hoạ những khu rừng của cuộc sống hiện đại. Nhà thơ thường gửi vào đó những khắc khoải, day dứt trước những thay đổi xót xa của núi rừng quê nhà (Đám cháy rừng). Khi khắc họa hình ảnh những khu rừng quê hương, ngoài sự kế thừa bút pháp ước lệ trong thơ ca xưa, những hình ảnh mà Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn đưa vào thơ lục bát của mình còn mang tính tả thực. Đây cũng là một xu hướng nổi bật của thơ lục bát hai nhà thơ này nói riêng và thơ ca văn học hiện đại nói chung.

 

Khung cảnh thiên nhiên trong khu vườn quê của thơ lục bát Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn còn được tô điểm, làm đẹp thêm nhiều bởi hình ảnh của các hiện tượng tự nhiên. Họ thấy ở thiên nhiên, tự nhiên sự gần gũi, có mối liên hệ mật thiết với con người làng quê. Vậy nhưng, các hiện tượng tự nhiên ấy cũng có chút ít sự xâm nhập của cái chất đô thị hoá trong cuộc sống hôm nay (Võng trăng; Sao - Nguyễn Duy; Đã đành ngang dọc sơn hà; Những câu thơ dại - Đồng Đức Bốn).

 

Trong bức tranh thiên nhiên bằng thơ lục bát, cả Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn không ít lần khắc hoạ những cảnh vật giữa nơi phố thị. Tuy nhiên, những cảnh vật đó đa phần đã được quê mùa hoá, được khắc hoạ dưới cách nhìn, cách cảm của một người quê. Thêm nữa, đó cũng đều là những hình ảnh làm nổi bật đặc trưng chất đồng quê trong thơ lục bát của hai tác giả này và trong thơ lục bát Việt Nam hiện đại.

 

Sau bức tranh thiên nhiên làng quê, phải kể tới bức tranh đời sống thôn dã trong thơ lục bát Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn. Cảnh sinh hoạt đặc trưng nhất của cuộc sống miền đồng ruộng ấy là cảnh lao động cần mẫn của những con người nơi đây. Nguyễn Duy sắc sảo khi khắc hoạ niềm vui lao động, sự hăng say của những con người đang xây dựng cuộc đời mới (Bài hát người làm gạch). Đồng Đức Bốn cũng là người thấu hiểu cảnh sống con người quê mùa. Ông gọi đó là cảnh nhà quê, luôn phải “chân lấm tay bùn” quanh năm bươn trải nơi ruộng lúa, vườn rau (Nhà quê).

 

Chúng ta khó có thể bỏ qua một mảng đời sống rất đẹp, giàu truyền thống của làng quê, đó là những hoạt động cộng đồng mang tính văn hoá như quang cảnh những buổi họp chợ, những hội hè đình đám …Quang cảnh ấy trong thơ lục bát Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn giản dị, gần gũi nhưng cũng có nhiều nét riêng ảnh hưởng từ cuộc sống hôm nay (Lạng Sơn; Chợ Thương).

 

Không chỉ có cảnh đời sống sinh hoạt của những con người các làng quê, Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn còn khắc hoạ trong thơ mình những bức tranh đời sống nơi đô thị. Những tên phố, tên đường, những cảnh sống nhộn nhịp của con người cũng được họ đưa vào thơ thật ngọt, thật êm. Đó cũng là những gì tạo nên những sắc thái rất riêng trong chất đồng quê của những nhà thơ đồng quê hiện đại (Cơm bụi ca - Nguyễn Duy; Nhớ Thuỵ Khuê - Đồng Đức Bốn).

 

1.2.2. Âm thanh đồng quê

 

Gần gũi với thiên nhiên làng quê, những âm thanh của cảnh vật ấy đã đi vào thơ lục bát Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn tự nhiên, giản dị. (Võng trăng; Nắng). Không chỉ là lắng nghe, cảm nhận, tâm hồn Nguyễn Duy còn hoà nhập, hoá thân vào những cảnh vật thiên nhiên, cất lên những tiếng nói tình nghĩa, sâu sắc của thiên nhiên cây cỏ (Lời của cây…; …- Và lời của quả). Trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn, mỗi âm thanh vang lên lại nặng trĩu một nỗi lòng đắng cay, ngang trái của một chàng lãng tử đang bước thấp, bước cao giữa cuộc đời (Chợ Thương; Cái đêm em ở với chồng; Cuốc kêu).

 

Với làng quê, nhiều khi thế giới âm thanh còn là sự im ắng, yên tĩnh, thanh bình. Nhiều bức tranh quê bằng thơ lục bát  được Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn xây dựng mà không có sự hiện diện của âm thanh. Giúp người đọc liên tưởng tới quang cảnh đặc trưng, thân thuộc của làng quê Việt Nam được nhìn từ phía xa xa (Xuồng đầy - Nguyễn Duy;  Chăn trâu đốt lửa - Đồng Đức Bốn). Nhiều khi, cái lặng yên trong thơ lục bát của họ lại trở thành “lặng câm”. Nó mang theo những thái độ chua xót, hoang mang đáng sợ của tác giả: Trăm năm tưởng gỗ hoá trầm/ Nào ngờ lại đá lặng câm đứng chờ (Đồng Đức Bốn).

 

1.2.3. Hương vị đồng quê

 

Trước hết, đó là hương vị toát ra từ cảnh vật, từ cuộc sống dân dã, quê mùa. Cảm nhận hương vị đồng quê như thế nào, Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn thể hiện trong thơ lục bát của mình như thế ấy. Họ đều là những con người quê có tâm hồn và giác quan tinh tế. Những câu thơ lục bát mà họ viết nên xuất phát trước hết từ tâm hồn, giác quan ấy (Bát nước ngô; Thuốc lào - Nguyễn Duy; Mùa xuân đi phủ Tây Hồ; Đi qua bến lở sông bồi - Đồng Đức Bốn). Khứu giác tinh tế của thi sĩ còn cảm nhận được những sự vật, hiện tượng tưởng như không có hương vị (Ca dao vọng về 4 - Nguyễn Duy); Muôn vàn sông chảy về đây - Đồng Đức Bốn).

 

Tiếp đến, chúng ta phải nói đến những hương vị mang tính tượng trưng, những ngọt bùi, đắng cay trong kinh nghiệm của nghững người dân quê. Chúng ta có thể tạm gọi đó là những dư vị của cuộc sống, của đời người. Đó là những gì thuộc về hiện thực cuộc sống được chuyển hoá vào trong kinh nghiệm những người dân lao động nông nghiệp từ rất lâu nay (Về làng; Được yêu như thể ca dao - Nguyễn Duy; Chín xu đổi lấy một hào - Đồng Đức Bốn).

 

Cả Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn đều cảm nhận sâu sắc những hương vị quen thuộc của chốn đồng nội. Dù đó là những hương vị toát lên từ cảnh vật hay từ cuộc sống của người dân quê đều được hai nhà thơ này thể hiện đặc sắc trong thơ lục bát bằng cảm xúc trong sáng, tinh tế. Những ai đã từng sống ở quê, hẳn sẽ hiểu và dễ đồng cảm với suy nghĩ, trải nghiệm trong thơ lục bát của họ.

 

2. Người quê, tình quê

2.1. Người quê, tình quê trong Việt Nam hiện đại

 

Nhìn chung về thơ ca Việt Nam, những bài thơ nói về con người thuần chất Việt, tình cảm thuần Việt vẫn là những thi phẩm để lại ấn tượng cho người đọc. Những con người lam lũ trên mảnh đất mang nền văn hoá nông nghiệp lúa nước khi đi vào thơ ca ân tình và đẹp biết chừng nào. Những người ông, người bà, người cha, người mẹ, người chị…trong thơ gần gũi với tình cảm tươi sáng, cao đẹp lạ thường. Chúng ta có thể điểm danh và tập hợp đầy đủ các khuôn mặt, hình ảnh những người dân lao động của làng quê trong thơ Việt Nam hiện đại. Chúng ta có thể kể tới thơ của rất nhiều các tác giả như Nguyễn Bính, Bằng Việt, Tế Hanh, Tố Hữu… ở mỗi tác giả, mỗi hình ảnh đều mang một dáng vẻ đặc sắc khác nhau. Nhưng dù thế nào chăng nữa, Đó đều là những hình ảnh bắt nguồn từ tâm tình, phẩm chất của những người làng quê. Người quê, tình quê là những tiêu chí quan trọng để xếp một nhà thơ có hoặc không có mặt trong đội ngũ những thi sĩ đồng quê Việt Nam.

 

2.2. Người quê, tình quê trong thơ lục bát Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn

2.2.1. Tấm lòng đối với quê hương

 

Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn yêu hơn cả là cái làng quê cụ thể, nơi chôn rau cắt rốn của mình. Họ nhận ra những vẻ đẹp bình dị mà tinh tế của quê hương. Khi ở giữa quê hương, họ trải hết lòng mình để được tắm những dòng sữa ngọt ngào chảy giữa đồng quê. Khi xa quê rồi, tình cảm trong họ lại chuyển hoá ngay thành nỗi nhớ nhung da diết. Nỗi nhớ làng quê đã hoà chung làm một với nỗi lòng thương nhớ đất nước. Nỗi nhớ, tâm trạng ấy là mạch cảm xúc bắt nguồn từ trong ca dao nhưng cũng là tiếng thơ bật lên từ đáy lòng thi sĩ (Nhìn từ xa…Tổ Quốc - Nguyễn Duy; Nhà quê - Đồng Đức Bốn)

 

Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn sống ở cả nông thôn và thành. Nhiều khi, nỗi nhớ đòng quê đã hoà chung với nỗi nhớ thành thị. Tuy nhiên, cảnh vật, cuộc sống đô thị hiện lên trong nỗi nhớ của ông thường không ồn ào mà man mác, nhẹ nhàng sắc quê. Họ cũng không chỉ nhớ quê khi ngăn cách về không gian mà còn nhớ làng quê khi có sự ngăn cách về thời gian.

 

2.2.2. Người quê, tình quê trong thơ lục bát của Nguyễn Duy và của Đồng Đức Bốn

 

Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn đều là những con người của xứ đồng. Họ gắn bó, gần gũi, yêu thương những con người đồng quê. Mà trước hết, phải nhắc tới hình tượng những người phụ nữ cùng những tình cảm, cảm xúc rất thân thương. Đó là những người bà, người mẹ, người chị, những cô thôn nữ, những “em” - nàng thơ, những vợ của thi sĩ… Dù họ là những người phụ nữ ở chốn quê mùa hay giữ nơi thành thị, là người phụ nữ thời chiến hay thời bình thì đều hiện lên thân thương, quen thuộc. Những hình ảnh ấy được tiếp sức từ vẻ đẹp của thơ ca truyền thống, in đậm dấu ấn của thơ ca Việt Nam hiện đại  nhưng cũng mang nét riêng trong điệu tâm hồn, cảm xúc của mỗi tác giả.

 

Hình ảnh những người đàn ông, những người con trai bình dân khác trong thơ lục bát Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn cũng là những hình ảnh đẹp, kết tinh từ những tình cảm cao đẹp trong tâm hồn nhà thơ. (Người cha,  Về làng - Nguyễn Duy); Bố tôi, nhà quê - Đồng Đức Bốn). Họ là những con người làng quê đôi khi ngộc nghệch nhưng giàu phẩm chất đáng quí. Họ đồng thời cũng là những người anh hùng cao đẹp mà giản dị khi đất nước lâm nguy.

 

Làng quê Việt Nam và những tình cảm ấm áp tình người trong thơ lục bát Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn còn hiện lên qua nhiều hình ảnh con người khác. Đó là bà bán nước đầu làng, người hát rong, người ăn mày, cô hàng xén, những ông lã quê mùa bình tâm giản dị…Tất cả đã hợp lại để tạo nên bức tranh quê gần gũi, thân thương. Họ là những con người của các miền quê, các xứ đồng trên khắp dải đất Việt Nam. Gương mặt họ, dáng hình họ là những gì đặc trưng của quê hương Việt.

 

Bên cạnh những điểm tương đồng, chúng ta có thể thấy một số điểm khác nhau khá rõ ràng khi thể hiện tình quê, người quê trong thơ lục bát của Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn. Cơ bản có thể thấy như sau:

 

Khi khắc hoạ con người, tình người quê mùa, Đồng Đức Bốn thường ấn tượng sâu sắc với những con người xứ Bắc. Đôi lúc có xuất hiện hình ảnh những con người của các miền đất khác nhau nhưng đa phần đều được khắc hoạ mang đậm tính cách, bóng dáng con người quê Bắc. Còn Nguyễn Duy tỏ ra đa dạng, linh hoạt hơn. Thơ lục bát của ông có gương mặt của những con người ở các vùng quê Bắc, bên cạnh đó còn có bóng dáng của con người các vùng quê khác như xứ Huế thơ mộng, Đà Lạt nên thơ, hay vùng Châu Đốc, Đồng Tháp Mười, An Giang…

 

 Một điều nữa, thời điểm bước vào làng thơ của Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn là khác nhau, do vậy, thế giới quê mùa trong thơ ca của họ sẽ không thể giống nhau. Nguyễn Duy thiên về khắc hoạ, thể hiện những gì thuộc về thời chiến. Đồng Đức Bốn lại thiên về những cảm quan quen thuộc trong cuộc sống đời thường.

 

Đọc thơ lục bát Nguyễn Duy, chúng ta thường cảm nhận và liên tưởng đến những cảm xúc êm ái, mượt mà, có da diết, băn khoăn thì cũng rất nhẹ nhàng. Thơ lục bát Đồng Đức Bốn lại mang lại những cảm giác bất ổn, day dứt, khắc khoải sâu đậm về cuộc sồng hiện tại. Nhiều khi, dòng cảm xúc trong thơ trở nên quằn quại, đau đáu không ngờ. Trong thơ Đồng Đức Bốn, chúng ta luôn thấy một cái “tôi” đang cố vẫy vùng mong thoát khỏi tình cảnh hiện tại. Nhưng trớ trêu thay, nhà thơ càng vùng vẫy thì lại càng chìm sâu hơn vào nỗi đời lận đận, nổi nênh.

 

Có thể nói, Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn là những đại diện tiêu biểu cho thơ lục bát Việt Nam hiện đại. Là những đứa con quê, Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn đã đóng góp vào làng thơ nước nhà những giá trị thơ đặc sắc, tinh tuý của mình. Tiếp tục thổi lên nguồn sống mãnh liệt ngàn đời chảy xuyên qua các thế hệ của dân tộc.

 

3. Mối quan hệ giữa thành thị và đồng quê trong thơ việt nam hiện đại qua thơ lục bát Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn

 

Trong thế giới thơ Nguyễn Bính và nhiều tác giả cùng thời, sự đối lập, tương phản thẩm mĩ giữa thiên nhiên thành thị là khá rõ. Với họ, sự xâm nhập của những giá trị mang tính chất hiện đại của thành thị là những gì làm mai một đi cái chất quê mùa đáng quí của những con người đồng ruộng chân lấm tay bùn (Chân quê). Từ thơ đồng quê Nguyễn Bính và những tác giả trong phong trào thơ mới tới thơ lục bát Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn là cả một chặng đường khá dài của thơ ca Việt Nam. Những giá trị thơ kia vẫn được kế thừa. Tuy nhiên, cũng có nhiều biến thái cho thấy bước đi mới của thơ ca Việt Nam trong buổi hiện đại.

 

Quả thực mà nói, quê mùa và thành thị vẫn luôn là hai thế giới đối lập nhau, khó có thể dung hoà, hẳn Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn ý thức rất rõ điều đó. Không khó để họ nhận ra rằng, cái hồn quê thuần chất nay đang bị đổi thay bởi sự chi phối của các yếu tố thuộc về cuộc sống đô thị hoá (Được yêu như thể ca dao, Thi sĩ B - Nguyễn Duy; Gửi Tân Cương - Đồng Đức Bốn).

 

Ngoài sự đối lập và tương phản của thành thị- nông thôn như chúng ta đã thấy, thơ lục bát Việt Nam hiện đại còn cho thấy một sự thay đổi rất lớn trong quan điểm, thái độ của những nhà thơ hiện đại trong cuộc sống đô thị hoá. Thành thị không chỉ là một giá trị gây ra sự biến thái của hồn quê, chất đồng quê nữa, nó đã mang thêm một sắc thái nữa là sự tương hỗ, tương trợ cho chất đồng quê trong thơ ca. Trong cuộc sống hiện nay, bóng dáng của cuộc sống thành thị đã len lách vào từng ngõ nhỏ của cuộc sống. Sự ngăn cách giữa thành thị-nông thôn ngày càng trở nên mờ nhạt.

 

Cả Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn đều là những con người có gốc gác quê mùa nhưng lại gắn bó nhiều với cuộc sống thành thị. Sống giữa cuộc sống ấy, họ dần hiểu ra rằng, có nhiều cái rất quê, rất đẹp và thi vị. Những cảnh quan của cuộc sống phố thị được họ khắc hoạ nhiều khi lại mang nguồn gốc quê mùa và có chức năng thể hiện chất đồng quê. (Cơm bụi ca, Hồ Tây - Nguyễn Duy; Nhớ Thuỵ Khuê, Buổi sáng đường Lê Thánh Tông - Đồng Đức Bốn).... (Còn nữa)

 

 

---------------

Tác giả Phạm Mai Phong

Trích luận văn: Chất đồng quê trong thơ Lục bát Việt Nam hiện đại

(Qua thơ Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn)

 

 

Chia sẻ:                   Gửi cho bạn bè
Mỗi độc giả cũng là một tác giả
(Mời bạn cho ý kiến, cảm nhận và lời bình sau khi đọc bài viết trên)
Họ và tên  *
Địa chỉ  *
Email  *
Điện thoại  *
Nội dung (bạn cần sử dụng font chữ Unicode, có dấu; ghi đầy đủ họ tên, địa chỉ, email, điện thoại,... Nếu thiếu các thông tin đó, có thể chúng tôi sẽ từ chối cho hiển thị
 
Các bài khác: