Thứ ba, 26/05/2026,


Để đến được với thơ, Bốn bất chấp tất cả (15/04/2009) 

 

Lòng yêu yêu đến trong ngần

Đường xa thương vết chân trần bạn tôi
(Nguyễn Khoa Điềm)

 

     Chẳng biết “Cái đẹp có cứu (nổi) thế giới” hay không, nhưng thơ hay như người đàn bà đẹp khơi gợi và góp phần sinh nở cái đẹp thì đã nhỡn tiền. Ba chục năm trước, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm nổi tiếng bởi có thơ hay và có thi pháp thơ hiện đại: Vườn thơ xưa không còn gã áo trắng đi về/ Ngơ ngẩn đọc thơ buồn trong tiếng guốc cạo râu. Ông đã dứt khoát với quá khứ Thơ Mới và tiến gần tới siêu thực với hy vọng rằng sẽ mở cho chân trời của hiện thực, của chữ nghĩa rộng hơn, miên man hơn khiến thức dậy tinh thần lãng mạn của giới trí thức Huế - Sài Gòn - Đà Nẵng vốn đang tuyệt vọng bởi chiến tranh đằng đẵng. Thế mà rồi hăm nhăm năm sau, gặp và đọc Đồng Đức Bốn, ông đã bất ngờ trở thành một thi sĩ tân cổ điển:


Bạn giờ đóng gạch nơi nao
Văn chương lấm láp vêu vao mặt người
Bất ngờ bạn đến thăm tôi
Gửi cho mấy tập, ôi trời là thơ...
Câu dài câu ngắn ngẩn ngơ
Những rơm với lửa, những tơ với tình
Một người hoang dại một mình
Bơ vơ giữa phố mong thành thi nhân(...)


     Xưa nay thi sĩ tặng nhau, vẽ chân dung cũng nhiều, nhưng có lẽ đây là bài thơ hay thật hiếm. Vừa tả được Bốn, lại cũng hình như vịnh cả giới mình (liệu có ai, ngay cả cụ Nguyễn Tiên Điền, không bơ vơ sân Trình, bơ vơ giữa phố mà thành được thi nhân? nếu cụ loay hoay phục hưng nhà Lê mạt mà thành, cụ thành cụ Thượng, cụ Quận thì liệu ta có Truyện Kiều không nhỉ?) Mặt khác, “ôi trời là thơ” rõ ra là niềm hoan hỷ chằm bặp; đó là sự chằm bặp của thuần tuý thi sĩ, của hai tài năng; cái hay của thơ Bốn đã gọi ra từ đâu đó trong vùng bị bỏ quên của tác giả Đất ngoại ô. Bởi vì, ba chục năm trước, bài Đất ngoại ô - ẩn dụ của thứ dân như Bốn, trong tập thơ ấy, Nguyễn Khoa Điềm viết rất hiện đại: những người dân nghèo về đây/ như vỏ hến chiều chiều tấp lên các bến.


     Tôi gặp Bốn đúng 10 năm trước, y tự tìm đến chỗ tôi khi bỗng y đọc trên tờ Nông nghiệp Việt Nam bài: Ba thi sĩ nhà quê ra tỉnh của tôi, có đoạn: trong ba gã nhà quê thì tài năng có thể xếp theo thứ tự: Đồng Đức Bốn, Phạm Công Trứ và Trần Quang Quý; như thế, Bốn đã vượt lên trước hai người xuất hiện trên thi xã trước mình và Bốn đã ở gần nơi thơ ở. Gặp nhau, y nói như ra lệnh cho tôi để xin 10 tờ NNVN (y rất sốt ruột cho việc cần nhanh chóng có nhiều người biết đến thơ mình, thường photocoppy lời khen của các đại gia - bài nào vừa khen vừa chê thì y cắt béng chỗ chê - để phân phát loạn cả Hà Nội;) rồi vì chỉ có thể cho y 3 tờ, y lập tức chửi tôi là đồ keo kiệt và ném một xấp tiền vào mặt người mà vừa mới đó được y coi là tri kỷ của tài năng. Tôi cười nhạt khiến y càng tức tối chửi rủa ầm ĩ cả toà soạn. Tôi không thanh minh. Y làm sao có thể hiểu rằng dù gian díu với thị thành trước y 20 năm nhưng chân tôi vẫn còn vàng bùn đồng chua như y, chỉ có điều, xã hội có khế ước của nó? Càng phát triển, xã hội càng nhiều khế ước: Khế ước yêu nhau, khế ước bồ bịch, khế ước vay tiền, khế ước để trở thành một nhà thơ hội viên...

 

     Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp bảo Bốn rất ít chữ, có độ 600 từ là cùng. Nói thế hơi khắt khe, tôi đếm kỹ trong 5 tập thơ y đã xuất bản, thấy y có độ 550 từ; cộng với độ 350 từ tục tĩu, sex và môi giới là “vốn lưu động” y dùng để giao dịch kiếm sống. Tôi nói thế, Bốn trừng mắt: Bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm có đúng 70 chữ, nhưng chữ mẩy như vú mẹ Đốp, nên cứ là hay suốt 70 năm qua. Mà Bốn có tới mấy mươi bài, chứ có ít đâu? Vấn đề là hiệu quả. Đồng Đức Bốn luôn luôn hứa với non nửa các nhà văn Hà Nội rằng, nao xuống Hải Phòng, Bốn chiêu đãi đến lử người thì thôi, Bốn hết tiền thì ới một tiếng, bạn của Bốn chiêu đãi ông. Mời xong, bao giờ Bốn cũng bấm máy di động alô cho một ông nào đó, thấy bảo to lắm.


Cùng là dân Mậu Tý (sinh năm 1948), tôi biết Bốn từng khốn đốn vì tính cách của mình, cả mặt hay lẫn nét dở của nó. Vào năm 1992, y phải làm thực khách nhà Thiệp cả tháng giời để hoàn thành nốt những bài thơ cuối cùng của tập Chăn trâu đốt lửa. Thiệp bấy giờ mới tự bỏ việc, cũng khốn lắm, còn hơn cả Nguyễn Bính hồi ở Cống Trắng với Trần Huyền Trân: Tiếng tăm thì rất nổi/ Nhưng cũng thật là nghèo/ Gác Sơn Nam nhịn đói/ Nằm đọc thư người yêu. Trong những năm “Bơ vơ giữa phố mong thành thi nhân” ấy, y đã nếm đủ mọi cay ngọt để có câu thơ chan nước mắt:


Chiều mưa phố Huế một mình
Biết ai là bạn chân tình đến chơi


     Đây nữa:


Xong rồi chả biết đi đâu
Xích lô Bà Triệu ra cầu Chương Dương


     Danh chưa thành đã đủ phẫn đến có thể trẫm mình vào lòng sông Mẹ; đằng này y vừa vô danh vừa không tiền. Nhưng may mà thiên lương y tốt, ý chí y ghê gớm. Mãi gần đây tôi mới biết câu châm ngôn “Nhà văn thì dùng chữ, còn nhà thơ thì chữ dùng” là của Jean Poul Sartre; nhưng chân lý của nó thì đã ngấm vào đời tôi từ ngày mới ti toe cầm bút. Người đời và ngay cả chính Bốn cũng cứ tưởng Bốn khôn ngoan mà ít người biết rằng cách khôn ngoan nhà quê của Bốn đã không giúp nổi cái việc cỏn con là kéo y khỏi rơi xuống vực của sự trẫm mình vì nàng thơ - con hồ tinh chuyên hút tinh khí thi nhân rồi nhả ra bã người dở sống dở chết. Câu thơ này là vô luân trong khế ước xã hội:


Xa một ngày hơn triệu mùa đông
Em bỏ chồng về ở với tôi không?


     Nhưng Bốn đã bánh đúc bầy sàng một tình thế oái oăm có thật mà những kẻ đạo đức giả vội vàng la ó tạo hoả mù để chạy trốn. Họ sẵn sàng:  thương em đến sờn mòn/  yêu em đến nhàu nát (Eptusencô) và đọc thầm thơ Bốn (chứ đọc thành tiếng thì thành kẻ đồng thuận với vô luân à?) Câu sau đây thì có thể đọc thành tiếng:


Đang trưa ăn mày vào chùa
Sư ra cho một lá bùa rồi đi
Lá bùa chẳng biết làm gì
Ăn mày nhét túi lại đi ăn mày


      Phải đến hôm qua, khi đang là khách của gia đình Bốn, tôi mới hiểu nguyên nhân sâu xa của tính cách đùa cợt ngạo đời của bốn câu thơ ấy. Nhà văn Lê Lựu dẫn ba xe con chở 14 thuộc viên xuống, Nguyễn Huy Thiệp và tôi có kèm theo một chú học trò, cộng với mấy người bạn của y ở Hải Phòng, ngồi la liệt thành dãy dài. Y luôn mồm hỏi ai thích rượu gì, Giôn đen, Giôn vàng, Giôn xanh cho đến Mai Quế Lộ, Mao Đài độ hơn 100 chai, uống bao nhiêu cứ lôi từ tủ kính ra mà uống. Hay là rượu thuốc, sâm, mật gấu Bắc cực? Vợ y cũng vồn vã với khách không kém. Đó là người đàn bà ngoài 50, trên dáng vóc và gương mặt còn đầy dấu vết của một cô gái đẹp một thời, người đeo có tới nửa cân vàng mười, bưng bê quần quật, lại còn sai phái con cháu. Tính cách đã bánh đúc bầy sàng thì cố nhiên phải khinh ghét những kẻ đạo đức giả, khinh ghét như tương Bần để lâu hoá thành mát mẻ và độ lượng. Thế rồi như một sự “bầy đặt” nhãn tiền. Đang ăn uống trong nhà rào rộ như tằm ăn rỗi, thì đàn chó hơn chục con nhà y bất ngờ sủa rông rổng ngoài ngõ. Thằng con trai ra rồi vào, nói là có ba người ăn mày, con bảo họ nhà cháu đang bận khách, các bác đi để khi khác. Bốn quắc mắt mắng con, rồi chợt rưng rưng bảo: “Ăn mày là ai, ăn mày là ta/ Đói cơm rách áo hoá ra ăn mày. Mày phải nhớ, muốn nên người, thì phải cho người ăn mày đến bát gạo cuối cùng; lần sau mà thế, thì đừng có trách!” Lê Lựu thấy căng, gạt đi: Tao nói thật, vợ con mày hầu mày đã khổ bằng mười chồng con nhà khác, đây nó hầu mấy chục người từ sáng đến giờ, đến nó cũng chưa có miếng nào vào bụng nữa là...Bốn im. Tôi im, nhưng tôi hình dung toàn bộ con người Bốn, với 10 năm toàn những tin đồn rất không hay về y, nhưng hoá ra giới văn sĩ cũng rách việc và u mê lắm, đàn bà lắm. Phải là một người có uy, có ân, có tình đến thế nào mới có thể khiến vợ con quý bạn bè của chồng của bố đến như vợ con y, chứ nhỉ? 


     Lại nói thêm về con người y cư xử với con chim con thú. Bốn nuôi tới mấy chục giống chim (nhưng...cố nhiên là không có vẹt.) Trong đó có một con sáo biết nói, chốc chốc lại “có khách, có khách” (Thiệp rất hốt sáo nói tiếng người!) Cứ như tính nết gia chủ, đàn chim cứ thấy nhiều người lại thi nhau hót lảnh lót ồn ào; càng nhiều khách càng hót khoẻ, giọng con nào cũng đòi át con kia hệt như...chủ khách của nhà Bốn vậy. Buổi chiều, y xoay trần ra tắm cho chó. Con người ăn mặc và trang sức hơi... bị choé té ra không phải là trọc phú như tôi vẫn nghĩ. Y xát xà phòng, y dội nước, y nịnh từng con chó bướng bỉnh và không sạch sẽ gì; rồi ngọt ngào, rồi híp mắt cười như một em bé gái hồn nhiên. Tôi chợt hiểu y đúng là thi thĩ bẩm sinh. Nó cũng minh chứng rằng, bất chấp nhiều tai tiếng đồn thổi, y vẫn cho ra những câu thơ của một nhà thơ tài năng, lịch lãm và ngang tàng sòng phẳng với cả dân quê lẫn kẻ chợ; và, nhất là có thể “tao mày” với Nguyễn Bính:


Nhà quê có cái giếng đình
Trúc xinh trúc đứng một mình lẳng lơ
Nhà quê mấy anh trai tơ
Quần bò mũ cối giả vờ sang chơi

 


     Hồn quê của tiền bối Nguyễn Bính yên ổn hơn, neo đậu hơn; Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh, nó không thấy cần thiết phải khác đi và khá lên như con cháu cảm nhận. Cả đây nữa:


Nhà quê chân lấm tay bùn
Mẹ đi cấy lúa rét run thân già
Chợ làng mở dưới gốc đa
Nhà quê mang mấy con gà bán chơi


     Cũng không thấy có hồ sơ chứng tỏ rằng Nguyễn có ý định cải thiện quan hệ với lục bát, may áo mới cho nàng, như Bốn. Đây là nguyên một bài thơ của y:


Chiều nay Hồ Tây có giông
Tôi ngồi trên sóng mà không thấy chìm


     Nguyễn Huy Thiệp đã nói (đại ý) về lục bát, Nguyễn Du truyền y bát cho Nguyễn Bính. Thế rồi Nguyễn Bính truyền cho ai? Tôi nghĩ Nguyễn Bính truyền cho Đồng Đức Bốn. Tôi không thấy như thế. Quá lắm y bát Nguyễn Bính truyền đến được cho Phạm Công Trứ thì dừng lại đấy: Em tôi áo chẽn, em tôi quần bò (Lời thề cỏ may. PCT). Nó gần như nối điêu của áo cài khuy bấm em làm khổ anh. Theo tôi, lục bát sau Nguyễn Bính đã có một nỗ lực quẫy cựa, cùng với sự tách ra nhập vào, nhập ruộng rồi chia ruộng ở nông thôn, lục bát đã biến tấu rất nhanh và dồn dập bởi ba nhà thơ Bùi Giáng, Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn với mỗi người đều có y bát riêng, là chưởng môn phái của chính mình.


     Vả lại, Bốn không phải là người gian díu hẳn với kinh thành, may mà vậy. Cách đây dăm năm, Bốn có gửi tôi một bài thơ về Hồ Tây cho báo tết. Tôi vứt. Bốn chửi tôi, tôi chửi lại, Bốn đem mối quan hệ với ông thứ trưởng ra doạ, mặc kệ, tôi có là Bá Kiến đâu mà phải in loại thơ vứt đi của phường phố:


Mùa xuân đi phủ Tây Hồ
Nắng thì mặc nắng, gió xô mặc trời


(...)Bây giờ mới thật tĩnh tâm
Bâng khuâng trong khói nhang trầm gặp nhau


     Nhưng quả thực y không dại đến mức chịu làm khách trọ của cơm đường cháo chợ, y chơi nhởi với phố phường, thậm chí văng tục vào kẻ chợ rồi ngay sau đấy là Trở về với mẹ ta thôi/ Lỡ mai chết lại mồ côi dưới mồ. Tại đó, y ăn nằm với đất đai, ngấm được cái dễ tính của nó là đa tình và lẳng lơ; cũng nhờ đó y lại được Trời cấy cho nhiều tinh khí triết học vừa cao siêu vừa sơ sài. Những câu thơ:


-Mẹ nằm như lúc còn thơ
Mà con trước mẹ già nua thế này


     và:


Khói thuốc là đường lên trời
Rượu trong cất ở mắt người sang nhau

 

     là của Trời cho. Còn những câu thơ sau đây tưởng có thể ví với mầm mạ cứ tươi tốt mọc lên từ sự hoai mục của hồn đất hồn người:


- Gọi em một tiếng tưởng xong
Không ngờ ai nấp trong lòng trộm nghe


- Đừng buông giọt mắt xuống sông
Anh về dẫu chỉ đò không cũng chìm


     Những câu thơ ấy, những mầm mạ ấy còn cần trước hết là hạt giống tài năng. Tôi muốn thay khái niệm y bát nhà Phật dùng như là một phương tiện hành đạo mà Thiệp mượn để gọi thi pháp lục bát bằng hạt giống tài năng, nó cũng gần giống với khái niệm vân chữ của Lê Đạt. Thiết nghĩ, tài năng là chuyện năng khiếu, nó quý hiếm vì nó độc bản, hai năng khiếu hệt nhau thì thừa cả hai. Hạt giống tài năng quy định cả cách tư duy nghệ thuật lẫn hình thức của nó; như hạt bưởi Diễn nở thành cây, kết thành quả bưởi Diễn. Và bưởi Đoan Hùng, Năm Roi, Phúc Trạch...cũng luân hồi như thế (đất có gấu gấu mọc). Không có tài năng thì dù có yêu quê hương đến đâu cũng chỉ như con người thật của ...Bốn vậy, rất chải chuốt bóng bẩy và rất cả tin vào cái mốt “đá rửa” của mình. Chỉ khi tài năng sử dụng Bốn vào việc đắc địa là làm thơ thì từ ngôi nhà đá rửa chợt ngùn ngụt bốc lên tận trời sự lộng lẫy của bùn đất:


Ối mẹ ơi đê vỡ rồi
Mộ cha liệu có lên trời được không
Sao chưa thấy chiếc thuyền rồng
Chở con với mẹ qua giông bão này?


     Vâng, văn là người, điều cũ kỹ này ai chả biết; điều đáng bàn ở đây là hiển nhiên thơ Bốn hay nhưng có người vẫn cố tình hiểu rằng tâm Bốn dở...Nhưng thôi, ngay cả điều này nữa Bốn cũng đã quen, Trời đã đày Bốn, Thơ đã dùng thứ củi gộc thô kệch gai góc là Đồng Đức Bốn mà đốt số phận của chính y, để nàng Thơ từ đó mà hoá thân. Bốn yên tâm với rơm rạ sắn khoai, vì hơn 10 năm trước y đã biết mượn chữ chăn trâu để chuyên chở chức năng chăn dắt cái tươi, cái hồn nhiên người của thi ca; từ trong cỏ rả, rơm rạ Bốn đã đốt lên ngọn lửa rọi sáng những vùng tối tăm hạn hữu của tâm hồn người. Và hôm nay y lại biết thêm điều này nữa: chiếc thuyền rồng (Sao chưa thấy chiếc thuyền rồng) mãi mãi là niềm chờ đợi của con người đối với thi ca, của bạn đọc đối với Đồng Đức Bốn và của chính Đồng Đức Bốn với sức sáng tạo còn lắm gian nan, còn lắm hứa hẹn của y.

Theo tác giả Văn Chinh

 

---------------
Bài này đăng lần đầu trên báo Văn nghệ với tiêu đề 'Theo vết chân trần bạn tôi' nay lấy lại như bản gốc.

(Nguồn: vanchinh.net)

 

 

Chia sẻ:                   Gửi cho bạn bè
Mỗi độc giả cũng là một tác giả
(Mời bạn cho ý kiến, cảm nhận và lời bình sau khi đọc bài viết trên)
Họ và tên  *
Địa chỉ  *
Email  *
Điện thoại  *
Nội dung (bạn cần sử dụng font chữ Unicode, có dấu; ghi đầy đủ họ tên, địa chỉ, email, điện thoại,... Nếu thiếu các thông tin đó, có thể chúng tôi sẽ từ chối cho hiển thị
 
Các bài khác: