Hàng năm, vào tiết tháng ba đất trời ấm áp mát mẻ, cây cối đâm chồi nẩy lộc. Tiết tháng ba cũng là dịp “lễ là tảo mộ , hội là đạp thanh“. Nguyễn Du diễn tả hết sức sinh động cái không khí náo nức, vui vẻ ấy: “Gần xa nô nức yến anh/ Ngựa xe như nước, áo quần như nêm ...“
Trời mưa hai đứa che chung một chiếc ô thì đã có vẻ “văn minh tiến hoá” ở mức cao rồi! Ông bà cụ kỵ ta xưa chỉ che chung một tàu lá chuối non thậm chí một cọng khoai môn bứt vội mà một ngày nào đấy không xa cũng quấn quýt vợ chồng.
Thơ lục bát là đôi chèo đẩy thuyền trên sông, là đôi bàn chân có khoảng cách trước sau, chân trước trụ xuống như câu sáu,chân sau nhón lên như câu tám, người dân vùng lúa nước của đồng bằng châu thổ, luôn biết chèo,
Chuyện bây giờ. Chuyện của thời mở cửa. Em tôi - cô gái quê - “lại lên tỉnh như hồi chị xưa”. Cứ ngỡ, em tôi chẳng làm gì nên chuyện khi con người của ngày hôm nay có cái nhìn thoáng hơn, rộng lượng và bao dung hơn.
Dân ca quan họ là loại hình nghệ thuật phong phú, độc đáo của dân tộc ta. Giá trị của dân ca quan họ cổ truyền được thể hiện không chỉ bằng những bài ca lời đẹp, hát hay, bằng phong cách lịch sự, trang nhã...
Ở Trung Quốc không có thể thơ lục bát, trong khi đó ở một số nước Đông Nam Á tồn tại thể thơ này. Riêng trong lịch sử văn học Việt Nam, thể thơ lục bát có vai trò đặc biệt và có sức sống mạnh mẽ. Có thể nói, thơ lục bát là điệu hồn của dân tộc Việt Nam.
Buồn ấy, vui ấy đâu chỉ gói gọn trong thế giới riêng tư của một cá nhân, đó là tâm trạng của cả một thế hệ. Nỗi buồn “đẫm trong lòng” ấy còn ẩn chứa cả niềm trăn trở vì cuộc đời này. Dòng sông thời gian cuốn theo tuổi trẻ, mang bao niềm vui hoà vào biển lớn.