Thứ hai, 08/06/2026,


Phạm Văn Đoan để thơ “đọng thành phấp phỏng tim tôi”… (27/01/2012) 
 
Rất tình cờ trên chuyến tàu ra công tác ở quần đảo Trường Sa, tôi gặp nhà thơ Phạm Văn Đoan. Anh là thành viên của đoàn công tác với tư cách cán bộ công đoàn. Chỉ khi đến đảo Song Tử Tây, tôi mới biết anh qua lời giới thiệu của anh Đỗ Văn Hậu, Phó Tổng giám đốc thường trực Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam.
Thực ra Phạm Văn Đoan với tôi còn xa lạ, dù tôi biết anh đã được kết nạp làm hội viên Hội Nhà văn Việt Nam năm 2002. Tôi cũng từng nhớ được mấy câu thơ của anh: “Đâu rồi cái ngày mới gặp/Mây trôi bồng bềnh trên vai/Quên màu thời gian trên tóc/Hồn nhiên mãi tuổi hai mươi”.
Đấy là những câu trong bài “Hè về” in trong tập thơ “Ngày xưa” của anh xuất bản năm 1997. Sau này anh có thêm tập thơ “Ngưỡng vọng”, xuất bản năm 2001, “Thơ lục bát” xuất bản năm 2010 và tập kịch bản phim “Huyền thoại một con đường” năm 1999 nhân kỷ niệm 40 năm ngày truyền thống Bộ đội Trường Sơn, về con đường mòn chiến lược mang tên Hồ Chí Minh.
Phạm Văn Đoan rất hiểu Trường Sơn vì anh là người trong cuộc, nhập ngũ năm 1971, biên chế ở một binh trạm Đoàn 559. Đến năm 1985, anh chuyển ngành công tác tại ngành Dầu khí, nhờ đó có nhiều bút ký, ghi chép về ngành kinh tế quan trọng của đất nước. Có lẽ được sống trong không khí lao động của ngành công nghiệp dầu khí hiện đại, lại thường có những chuyến đi bềnh bống trên biển, hiện thực cuộc sống và sự thăng hoa cảm xúc giúp anh đã viết nên những bài thơ ca ngợi tình yêu, cuộc sống, về những người lao động chân thật và có những số phận riêng. Giải C của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trao cho tập thơ “Ngưỡng vọng” (NXB Hội Nhà văn 2001) vào năm 2010 là sự động viên xứng đáng.
 
Nhà thơ Phạm Văn Đoan
 
Trò chuyện với Phạm Văn Đoan, biết anh quê lúa huyện Hưng Hà, Thái Bình, tuổi Quý Tỵ (1953). Cùng gốc nhà quê nên chúng tôi rất hợp nhau về cảm nhận, nhất là những chuyện sáng tác về đề tài nông thôn, thời thơ ấu với những kỷ niệm không phai. Khi viết bài thơ “Hè về”, anh tâm sự về tính “bảo thủ” của mình là khó tiếp nhận những đổi thay, lai căng văn hóa làng. “Thế là mùa hè đã tới/Cho bao nhiêu mốt ra đời/Còn đâu mùa thu năm trước/Tóc người xõa đẫm mắt tôi”. Chưa đủ, anh còn phản ứng dữ dội hơn: “Gió ơi thôi đừng thét nữa/Tóc em tôi đã tém rồi/Xin thời gian vòng ngược lại/Cho mùa thu đến cùng tôi”. Đấy là Phạm Văn Đoan vì quá sâu sắc với kỷ niệm, một thời học trò, thời “Tập làm người lớn không xong/Thói trẻ con cứ tồng ngồng dở dang” (Tìm về).
Là người lính bước ra từ chiến trường, gắn với con đường Trường Sơn huyền thoại, ở đó đã làm nên những tên tuổi thơ như Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Nguyễn Trung Thu… nên anh tự chọn cho mình lối đi riêng để không bị chìm lẫn. Anh đã từng cùng nhà thơ Nguyễn Đức Mậu đi trên chuyến xe vận tải của binh trạm trên đường Trường Sơn trong chiến dịch Đường 9-Nam Lào 1971. Chứng kiến những đoàn xe rầm rập nối đuôi nhau hối hả vào Nam, rồi những mất mát hy sinh trong chiến tranh, đã khiến thơ anh đằm lại: “Nâng chén lên mà thẹn/Gợi chiều xuân chiến trường/Còn miếng lương khô ẩm/Chia nhau giữa đoạn đường./Cùng nhìn. Ứa nước mắt/Ăn. Hay gói để dành/Ì oàng bom đạn giục/Ăn. Rồi đi cho nhanh”. Không nhiều lời, nhưng cuộc chiến tranh hiện lên rõ nét trong thơ Phạm Văn Đoan. Đọc những câu thế này ai có thể cầm lòng: “Giờ rượu thì sẵn đấy/ Mà người xa cứ xa” (Rượu Xuân).
Hai thái cực thơ của Phạm Văn Đoan rất dễ nhận, khi đau, đau đến tận cùng, ngẫm ngợi về thân phận; còn khi anh viết tưởng như bông đùa mà sao thâm thúy, càng đọc càng thấy thú vị. Phạm Văn Đoan khá thành công khi viết thơ lục bát, có hẳn một bài thơ lục bát dài tường thuật một hội nghị văn chương. Tôi đã từng thích một bài thơ lục bát của anh: “Trời Xuân phơi phới hong tơ/Cô hàng xóm quẩy đôi vò rượu Xuân/Vợ vừa xa rượu đang gần/Ước gì bí tỉ một lần rồi thôi” (Thèm lén).
Tâm sự về thơ, Phạm Văn Đoan cho rằng tài năng làm nên nhà thơ, nhưng nhân cách mới quyết định để người làm thơ trở thành nhà thơ lớn. Anh đã theo nàng thơ từ gần nửa thế kỷ, đến nay với anh vẫn: “Còn nguyên đấy một con đò/Còn nguyên đấy một bến bờ đợi mong/Còn nguyên đấy một dòng sông/Còn nguyên đấy một nỗi lòng bâng quơ”.
Công tác ở ngành Dầu khí, đã có dịp Phạm Văn Đoan và bè bạn thơ hành trình ra tận giàn khoan đọc thơ, nói chuyện thơ với cán bộ, công nhân viên trên giàn khoan. Giữa mênh mông bầu trời và biển nước, những giàn khoan như là điểm nhấn, để khơi lên những dòng dầu, thắp sáng cho cuộc sống. Ý nghĩa ấy cũng được Phạm Văn Đoan vận vào thơ anh. Anh luôn cố gắng tìm tòi cho thơ mình mới hơn, có ích hơn. Với anh, theo nghiệp thơ là “Vương vào sợi nắng sợi gió/Đọng thành phấp phỏng tim tôi”…
 
Nguyễn Đình Xuân
(Nguồn: Báo QĐND)
Chia sẻ:                   Gửi cho bạn bè
Mỗi độc giả cũng là một tác giả
(Mời bạn cho ý kiến, cảm nhận và lời bình sau khi đọc bài viết trên)
Họ và tên  *
Địa chỉ  *
Email  *
Điện thoại  *
Nội dung (bạn cần sử dụng font chữ Unicode, có dấu; ghi đầy đủ họ tên, địa chỉ, email, điện thoại,... Nếu thiếu các thông tin đó, có thể chúng tôi sẽ từ chối cho hiển thị
 
Các bài khác: