Cách đây 80 năm, với hai vở kịch nói Ông Tây An Nam (1931) và Chàng Ngốc (1930), Nam Xương - Nguyễn Cát Ngạc đã cùng các tác giả như Vi Huyền Đắc, Vũ Đình Long, Nguyễn Hữu Kim... trở thành những nghệ sĩ đầu tiên đặt nền móng cho sự ra đời của nghệ thuật kịch nói Việt Nam. Và không chỉ có thế, bằng hành động của mình, ông còn viết nên những trang bi hùng về cuộc đời một người thanh niên yêu nước, một chiến sĩ tình báo đã xả thân vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
Xin giới thiệu loạt bài của nhà phê bình Nguyễn Hòa người đã có nhiều năm nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Nam Xương - Nguyễn Cát Ngạc.
Cuộc đời Nhà viết kịch Nam Xương - Nguyễn Cát Ngạc
1. Ông Tây An Nam và Chàng Ngốc được sáng tác trong bối cảnh xã hội Việt Nam hồi đầu thế kỷ 20. Đó là thời điểm sau một vài thập kỷ tiếp xúc với văn hóa - văn minh phương Tây, đã xuất hiện một bộ phận “công dân vong bản”, muốn lấy các tiêu chuẩn của văn minh phương Tây làm nguyên tắc sống; họ quay lưng lại với cộng đồng, miệt thị các giá trị truyền thống và manh nha tham vọng đưa các tiêu chí của lối sống phương Tây vào lối sống của xã hội một cách không chọn lọc.
Là một trong những tác giả Việt Nam sáng tác kịch bản sân khấu theo “lối mới”, Nam Xương viết kịch bản trong tâm thế của sự cách tân, ông không chỉ tiếp thu mà còn cố gắng sáng tạo trên cơ sở các tri thức sân khấu mới từ phương Tây. Đối với ông, vấn đề không chỉ là phác dựng một kiểu loại hiện tượng xã hội - con người mới xảy ra, mà còn là cảnh báo hậu quả nhãn tiền của kiểu loại hiện tượng xã hội - con người đó đối với văn hóa dân tộc.
Trong không nhiều tư liệu đã biết về ông, GS-TS Trần Hữu Tá có những dòng giới thiệu như sau: “Nam Xương viết hai vở hài kịch thuộc loại có quan điểm tiến bộ hơn cả trong buổi đầu của của ngành kịch nói Việt Nam. Vở Chàng Ngốc (1930) có ý nghĩa chống luân lý phong kiến lỗi thời và góp phần đấu tranh cho quyền của người phụ nữ được tự do chọn bạn trăm năm. Vở Ông Tây An Nam (1931) được người đọc và người xem hoan nghênh…, đã châm biếm sâu cay tính chất lố bịch, lai căng, nô lệ đáng ghét, đáng giận của những trí thức mất gốc. Vở kịch thể hiện tinh thần dân tộc đúng đắn của tác giả đồng thời chứng tỏ ông là người viết hài kịch khá chắc tay...” (Mục từ Nam Xương - Từ điển Văn học (bộ mới), NXB Thế giới, H.2004, tr.1033-1034).
Ngoài một số nhận xét và giới thiệu vắn tắt, chúng ta chưa được biết nhiều về Nam Xương, chưa nói rằng, tên tuổi ông hầu như vắng bóng trong các giai đoạn lịch sử sau này và công chúng được biết về ông trong tư cách một tác giả kịch bản mà hầu như chưa biết rằng, cuộc đời Nam Xương không chỉ có vậy...
Về phần mình, từ các tư liệu do gia đình cung cấp và các văn bản tôi đã khảo sát, bước đầu xin phác thảo đôi nét về Nam Xương - Nguyễn Cát Ngạc trên cả hai phương diện cuộc đời cách mạng và sự nghiệp sáng tác của ông còn để lại.
2. Tên ông là Nguyễn Cát Ngạc, khi bắt đầu sáng tác ông lấy bút danh Nam Xương, về sau còn lấy các bút danh khác như Nguyễn Trúc Thanh, Bạch Liên. Sinh năm 1905, Nguyễn Cát Ngạc lớn lên và học xong tiểu học tại quê hương ông ở xã Phù Khê, huyện Từ Sơn, Bắc Ninh.
Về lý lịch và trước tác của ông, GS-TS Trần Hữu Tá viết: “Nam Xương tham gia cách mạng từ tháng Tám năm 1945, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương 1948, làm công tác bí mật ở các thành phố Nam Định và Hà Nội. 1954, ông được phái vào Sài Gòn công tác và hy sinh năm 1958, được truy tặng liệt sĩ. Thời gian hoạt động trong vùng Hà Nội tạm bị chiếm (1948 - 1954), ông viết một tập truyện ngắn có giá trị phê phán tích cực (Bụi phồn hoa), hai cuốn tiểu thuyết lịch sử đậm đà tinh thần dân tộc(Bách Việt, Hùng Vương) và một vở kịch (Tây Thi). Dưới danh nghĩa một nhà xuất bản tưởng tượng “Quê hương”, ông đã in được hai cuốn Bụi phồn hoa và Bách Việt” (Sđd).
Tìm hiểu kỹ lưỡng hơn, tôi được biết, trong gia tộc, ông là anh em ruột với ông thân sinh nhà sử học Nguyễn Lương Bích, và là chú họ đồng chí Nguyễn Văn Cừ - một trong những Tổng bí thư đầu tiên của Đảng ta. Ra Hà Nội học tiếp trung học, Nguyễn Cát Ngạc là học sinh Trường Bưởi. Năm 1926, tại lễ tang Phan Chu Trinh, Nguyễn Cát Ngạc tham gia rất tích cực, vì vậy ông đã bị thực dân Pháp bắt giam một thời gian. Ra tù, ông tiếp tục đi học và học xong Cao đẳng với bằng Tham tá công chính.
Trong thời gian này, Nguyễn Cát Ngạc bắt đầu sáng tác, các kịch bản Ông Tây An Nam, Chàng Ngốc được viết vào lúc ông 25 - 26 tuổi và hai vở kịch này góp phần làm nên “cột mốc” cho sự ra đời của nền kịch nói Việt Nam theo “lối mới”.
Vừa làm nghề công chính, vừa sáng tác, vừa tham gia hoạt động cách mạng, Nam Xương - Nguyễn Cát Ngạc là một trong những thành viên đầu tiên của nhóm Nam Đồng Thư xã, cùng với Trần Huy Liệu, Nguyễn Thái Học…
Sau khi Quốc dân đảng thất bại trong khởi nghĩa Yên Bái và những năm sau đó, nhận thấy con đường của Quốc dân đảng là không có tương lai, Nguyễn Cát Ngạc đứng vào nhóm các thành viên Quốc dân đảng đến với Việt Minh để cùng mưu cầu cứu nước. Từ chức trong ngành công chính, ông tìm đến với Việt Minh, tiếp tục đem nhiệt huyết của tuổi trẻ hiến dâng cho tổ quốc.
3. Vì những hoạt động đó, khi phát xít Nhật vào Đông Dương, chúng đã bắt giam và tuyên án tử hình ông. Nhưng ngay khi đó, Cách mạng Tháng Tám thành công, ông được cách mạng cứu thoát và về hoạt động tại Nam Định. Cuối năm 1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông lên chiến khu. Năm 1948 ông được kết nạp vào Đảng cộng sản Việt Nam, cũng năm này, dưới danh nghĩa “trí thức dinh tê”, Nguyễn Cát Ngạc trở về Hà Nội, thực chất ông là thành viên của cơ quan tình báo được phái về thành hoạt động ở nội thành.
Hoạt động công khai, Nguyễn Cát Ngạc tiếp tục làm nghề công chính, đã có thời gian ông giữ chức Trưởng ty Công chính tỉnh Hưng Yên. Thời gian này ông cũng tiếp tục viết văn, đã cho xuất bản nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết và và truyện dã sử.
Đầu năm 1954, Nguyễn Cát Ngạc bị lộ, thực dân Pháp bắt và giam ông tại nhà giam Thanh Liệt, sau đó là nhà giam Hỏa Lò. Khi Hiệp định đình chiến ký kết vào năm 1954, ông đã được quân đội đón về Hà Nam. Vài tháng sau, dưới danh nghĩa “trí thức di cư”, ông vào miền Nam tiếp tục hoạt động và mất năm 1958.
Gia đình Nam Xương - Nguyễn Cát Ngạc trên Chiến khu Việt Bắc
Tác giả Ông Tây An Nam - chiến sĩ tình báo thầm lặng
Về cái chết của Nam Xương - Nguyễn Cát Ngạc, theo nguồn tin chính thức thì ông bị ốm rồi qua đời, nhưng rất có thể ông bị kẻ thù đầu độc. Gần đây gia đình ông mới tìm thấy bức thư của ông gửi cho con trai Nguyễn Mạnh Đàm như sau:
“Đàm con! Tiếc là lúc vĩnh biệt Ba không gặp con. Ba hy vọng lá thư này con đọc được. Ba không thể tiếp tục cùng con chung việc lớn. Vậy con ở lại cố làm nốt những việc Ba thường nhắn nhủ. Kín đáo và thận trọng, càng lên cao càng tốt. Trí lớn nuôi 20 năm nhưng chỉ cần làm trong một buổi. Đừng hoang toàng mà hỏng việc, đừng bất nhân mà hỏng nghĩa, đừng thất ý thượng cấp mà hỏng cơ đồ. Chúc con khoẻ, nghe lời Ba nuôi dạy các cháu nên người hữu dụng của đất nước. 23 giờ đêm ngày 15/2/1958, Ba - Nguyễn Cát Ngạc”.
Điểm đáng chú ý là nội dung lá thư này cho thấy ông đã linh cảm thấy trước sự ra đi của mình, và về thời gian, ngày 15/2/1958 chính là hôm trước ngày ông qua đời. Phải chăng lời đồn rằng ông bị kẻ thù đầu độc là có cơ sở?
Theo lời kể của chị Phương Hạnh - con gái ông, qua một bức thư chị gửi cho tôi, thì dì của chị (em gái mẹ, đã mất năm 2000) là bà Võ Thiện Tín ngụ tại 28/17 Nguyễn Huỳnh Đức - quận Phú Nhuận, kể rằng hôm 15/2 năm đó, cha chị còn qua nhà chơi, còn mang cho mấy cháu bịch trái cây. Hôm sau 16/2, người ta gọi bà Võ Thiện Tín đến bệnh viện Chợ Rẫy nhận xác của anh rể. Khi nhận, bà Võ Thiện Tín thấy xác sưng to, có máu chảy ra từ mũi, miệng... Giấy chứng tử ghi “Nam Xương mất do cao huyết áp”. Cả nhà đều không tin, vì đó là những dấu hiệu bị đầu độc. Sau ngày đất nước thống nhất, tổ chức cũng thông báo cho bà Võ Thiện Nhân và các con về ngày mất của ông, cũng là ngày 16/2/1958
2. Vừa làm việc, vừa sáng tác, Nguyễn Cát Ngạc âm thầm hoạt động cách mạng, điều này trong gia đình thì chỉ có duy nhất vợ ông được biết.
Về người vợ của Nguyễn Cát Ngạc, có thể dựng nên một mẫu hình về người phụ nữ Việt Nam đã chấp nhận và sẵn sàng chịu đựng mọi thiệt thòi giúp chồng lo việc nước. Tên bà là Võ Thiện Ngôn, sinh ra và lớn lên ở Huế, bà là đồng chí hoạt động cách mạng cùng với bà Quang Thái - nữ chiến sĩ cách mạng nổi tiếng đã hy sinh trước năm 1945. Sau khi bị lộ, bà Quang Thái bị bắt, thực dân Pháp truy lùng, bà Võ Thiện Ngôn chuyển ra Hà Nội học nghề hộ sinh viên. Ở Hà Nội, bà gặp Nguyễn Cát Ngạc, ông bà thành hôn, sau đó bà chuyển về sinh sống tại Nam Định và trở thành một bà đỡ nổi tiếng ở đất Thành Nam. Bà mất năm 1994, khi đang ở phố Hàng Đậu (Hà Nội). Công việc chuyên môn hay phải đi xa và việc tham gia cách mạng của Nguyễn Cát Ngạc được vợ sẻ chia, đồng cảm nên dù ít khi ông có mặt ở nhà cùng vợ con, nhưng bà vẫn một lòng tần tảo làm việc và nuôi con.
3. Với quá khứ, người con trai Nguyễn Đình Thành của Nam Xương - Nguyễn Cát Ngạc không bao giờ quên những lần thay mặt mẹ từ Nam Định đến nơi cha bị giam giữ ở Hà Nội để tiếp tế. Trong cái tay nải mà mẹ chuẩn bị để anh mang đưa cha, ngoài quần áo và quà bánh, anh còn đem theo mấy cuốn sách tiếng Anh để cha dạy anh em trong tù. Mẹ bảo cha anh dặn như vậy.
Khi đó, cuộc sống của mẹ con bà Võ Thiện Ngôn ở miền Bắc hết sức vất vả, cái tiếng là vợ con của “kẻ vào Nam theo Mỹ” đeo đẳng cuộc sống của họ, thậm chí cả việc phấn đấu để được kết nạp vào Đoàn, việc vào học đại học của các anh chị cũng là việc rất khó khăn. Về phần tổ chức, dù rất quan tâm song cũng chỉ ở mức độ đủ để không gây nghi ngờ. Đôi khi dưới hình thức trợ giúp của anh em cùng đơn vị, đại diện cơ quan tình báo đã bí mật giúp đỡ một số tiền nhỏ giúp mẹ con bà Võ Thiện Ngôn sinh sống phần nào.
Theo lời kể của gia đình thì mười mấy năm, từ cuối những năm 50 của thế kỷ trước đến năm 1976, hàng năm cứ dịp Tết đến, Đại tướng Võ Nguyên Giáp lại gửi quà và thiếp chúc mừng năm mới đến bà Võ Thiện Ngôn và các con. Rất tiếc là sau vài lần chuyển nhà, gia đình không còn giữ được những tấm thiếp này (xin nói thêm, theo lời kể của gia đình thì trước đây, trong các kỷ vật không còn giữ được của Nguyễn Cát Ngạc, còn có chiếc áo ghi số tù tử hình của phát xít Nhật, nay đã thất lạc, không tìm lại được).
Phải chờ đến khi nước nhà thống nhất, tổ chức mới có thể gửi Giấy báo tử của Nguyễn Cát Ngạc về gia đình, Giấy báo tử ghi rõ mức lương của ông là 105 đồng, tương đương với cấp bậc thiếu tá của quân đội ta lúc bấy giờ.
Trong bản xác nhận của đơn vị, đồng chí Nguyễn Mạnh Khoát - Trung tá thuộc Cục nghiên cứu thuộc Bộ Tổng tham mưu (nay là Đại tá Nguyễn Mạnh Khoát, đã nghỉ hưu tại TP.HCM) đã viết về Nguyễn Cát Ngạc là: “Cơ sở nội thành từ 1954 đến 1958, hòa bình lập lại do yêu cầu công tác chúng tôi phái ông vào Nam tiếp tục công tác đến 1958 thì mất” và ông “là người tích cực công tác và hoàn thành tốt nhiệm vụ”.
|
Năm 1976, Nam Xương - Nguyễn Cát Ngạc được Nhà nước truy tặng danh hiệu liệt sĩ. Bằng Tổ quốc ghi công của ông mang số 546 do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký ngày 7/12/1976, và cũng năm này, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Mười Hương, thi hài ông được quy tập về Nghĩa trang Liệt sĩ TP.HCM. Một năm sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Lễ truy điệu Nguyễn Cát Ngạc được Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam tổ chức tại Hà Nội, ngoài đại diện đơn vị và gia quyến, còn có mặt các văn nghệ sĩ cùng thời với ông như Văn Cao, Nguyễn Xuân Sanh…
|
4. Đại tá Nguyễn Mạnh Khoát cũng chính là đại diện của cơ quan tình báo vẫn thường bí mật đến nhà đưa trợ cấp giúp mẹ con bà Võ Thiện Ngôn trong những năm tháng Nguyễn Cát Ngạc chưa được công khai tiết lộ là cán bộ tình báo. Việc gia đình Nam Xương tìm gặp được Đại tá Nguyễn Mạnh Khoát cũng ít nhiều là sự tình cờ. Chẳng là lần ấy, do được đọc giấy xác nhận của ông vẫn lưu lại trong cặp hồ sơ của gia đình, tôi băn khoăn muốn tìm hiểu Đại tá hiện giờ ra sao. Cũng may mắn là ngày ấy tôi còn công tác trong quân đội nên có điều kiện lần theo các quan hệ để tìm ra ông. Ngay sau khi biết chắc chắn Đại tá Nguyễn Mạnh Khoát đã về hưu và sinh sống tại TP.HCM, tôi liền liên lạc ngay với chị Nguyễn Thiện Phương Hạnh, và cuộc gặp gỡ giữa chị với người cán bộ tình báo từng thân thiết với mẹ con bà Võ Thiện Ngôn đã diễn ra hồi đầu năm 2000.
Gặp lại Nguyễn Thiện Phương Hạnh, vị Đại tá già đã ôm lấy chị rồi khóc. Ông khóc vì lâu ngày mới được gặp lại người mà ngày xưa khi ông đến nhà còn bé xíu. Khóc vì nhớ Nam Xương. Khóc vì nhớ tới ngày bí mật về Nam Định được chứng kiến cảnh mẹ con bà Võ Thiện Ngôn sống vất vả như thế nào. Và khóc vì sau năm 1975 ông lại tiếp tục công tác trên chiến trường nước bạn nên không có điều kiện giúp đỡ và giải tỏa một vài vấn đề mà bà Võ Thiện Ngôn và các con từng gặp phải. Theo lời kể của Đại tá Nguyễn Mạnh Khoát thì sau khi vào Nam, Nam Xương - Nguyễn Cát Ngạc hoạt động đơn tuyến. Mỗi cán bộ tình báo chỉ liên hệ với một hai người. Nên dù cùng hoạt động trong một “lưới tình báo” mà mọi người hầu như không biết nhau.
Trong câu chuyện với chị Nguyễn Thiện Phương Hạnh, ông còn nói rằng, ngày ấy trong đội ngũ tình báo có được một người như Nguyễn Cát Ngạc là khó lắm. Bởi ông là người được đào tạo cơ bản, có học vấn, có uy tín xã hội... đặc biệt là ông luôn mang trong mình một tình yêu nồng nàn với Tổ quốc. Nếu không có tình yêu ấy, Nguyễn Cát Ngạc sẽ khó dứt khỏi cuộc sống đầy đủ của một chuyên gia giao thông có uy tín để dấn thân vào với cách mạng, sẵn sàng chấp nhận cuộc sống xa gia đình, nhận những nhiệm vụ khó khăn mà tổ chức giao cho.
Những nhiệm vụ mà ông hoàn toàn biết nếu bị lộ thì phải hy sinh là điều khó tránh khỏi. Đại tá Nguyễn Mạnh Khoát kể lại, đã có lần Nguyễn Cát Ngạc dặn ông: “Nếu tôi hy sinh thì con trai Nguyễn Mạnh Đàm là cơ sở để tổ chức “móc nối” tiếp tục hoạt động”. Điều này cho thấy, Nguyễn Cát Ngạc có ý thức rất nghiêm túc về nhiệm vụ và các nguy hiểm mà ông có thể gặp phải trên bước đường hoạt động của người tình báo.
Theo Nguyễn Hoà (TT&VH)