Thứ hai, 08/06/2026,


Còn mãi "Tiếng vọng sông Ngân" (15/12/2011) 
 
Sự tài hoa của Ngân Giang đã nổi bật lên so với các nữ thi sĩ cùng thời qua một bài thơ. Vâng, chỉ một bài thơ "Trưng nữ vương" thôi, chỉ một thôi mà thật khác nhau về đẳng cấp.
 
Hình như cái bút danh ấy (Ngân Giang - tức sông Ngân) đã ứng vào đời thơ của người nữ thi sĩ tài hoa này, khiến thơ bà mang vẻ đẹp huyền ảo, lạnh và cách vời đời thực. Thì bản thân tác giả chẳng từng có lần gọi mình là "người trên dải Thiên hà" và thổ lộ tâm tư: "Thân thế cầm như đã nhỡ nhàng/ Vời trông trăng xuống nẻo hàn giang/ Lạnh lùng bút thảo đôi dòng chữ/ Trầm bổng thơ ngâm những tiếng vàng" (bài "Tương tư", viết năm 1971). "Lạnh lùng bút thảo…" cho thấy người viết rất vững tin vào tay nghề của mình, và "thơ ngâm những tiếng vàng" cho thấy đó là tiếng thơ sang trọng, đài các. Cả hai đặc điểm ấy Ngân Giang đều có mặc dù để "kết tủa" nên những bài thơ hay - lại là việc khác.
Cùng năm sinh với Ngân Giang (1916 - 2002) là một loạt thi nhân nổi danh trong phong trào Thơ Mới: Xuân Diệu, Vũ Hoàng Chương, Phạm Huy Thông, Bích Khê, Hồ Dzếnh. Không ai trong số ấy có tập thơ đầu tay xuất bản sớm như Ngân Giang. Tập "Giọt lệ xuân" được in ra năm tác giả mới 16 tuổi. Trước đó, năm lên 9 tuổi, Ngân Giang đã có thơ in báo. So với các bạn thơ cùng trang lứa, Ngân Giang có may mắn được ông cụ thân sinh rèn cặp làm thơ Đường từ nhỏ. Và điệu cổ thi ấy đã ngấm sâu, đã đơm hoa kết trái trong hồn thơ Ngân Giang. Như tán xanh quang hợp, nó vừa cung cấp bầu dưỡng khí - tức nguồn cảm hứng sáng tạo, vừa hút đi những thán khí - tức nỗi bi quan, buồn chán… của nữ thi sĩ. Có cảm giác tác giả hoàn toàn thỏa mãn với những gì mà thể thơ ấy tạo nên. Nó không những giúp bà thể hiện tình cảm, ý chí mà còn là chỗ để bà "vịn" vào mà thể hiện cốt cách của mình qua mỗi biến thiên cuộc đời.
Điều ấy lý giải tại sao trước kia, ở thời ly loạn, dẫu tâm thế có buồn thì giọng thơ Ngân Giang vẫn giữ được sự cứng vững, tự tin:
 
Chiều lại chiều rồi đêm lại đêm
Buồn nghe lá rụng gió lay rèm
Trăng cài vách lá nơi thôn lạ
Văng vẳng canh gà trở gối êm
(bài "Thôn lạ đêm trăng")
 
Và sau này, mặc dù rơi vào cảnh phải bán chè chén sống qua ngày, thì cũng không vì thế mà nữ thi sĩ đánh mất ở mình sự cao đạo cố hữu:
 
Một quán bên sông cuối phố nghèo
Miếng trầu, bát nước có bao nhiêu
Việc đời hay, dở khoan bàn đến
Lá rụng quanh thềm, gió hắt hiu
(bài "Một quán")
 
Chính những câu thơ với nỗi buồn man mác, nỗi sầu bàng bạc ấy đã nâng giấc, an ủi người phụ nữ hồng nhan đa truân này rất nhiều, giúp bà thấy mình không đơn lẻ bởi nó luôn gợi nhắc bà nhớ tới những thân phận giai nhân, tài tử trong quá khứ, để rồi từ đó, bà hoàn toàn có thể bình tâm với cách sống của mình: "Ngày nay cũng thể ngày xưa ấy/ Kim chỉ thong dong chẳng cúi luồn" (bài "Thuở nhỏ").
So với một nữ tác giả cũng năng làm thơ Đường luật là Vân Đài, thơ Ngân Giang chặt chẽ, súc tích hơn. Và, mặc dù đi theo vết cổ nhân, các từ ngữ, hình ảnh Ngân Giang sử dụng trong thơ nhiều khi đã trở nên mòn sáo (kiểu như: hoa gấm, bóng nhạn, hơi thu lạnh, dòng ly hận, lửa kinh thành, khói sông xa, vó câu, ải quan…), song, cũng giống Vân Đài, gạt sang một bên cả mớ ngôn từ mỹ miều, xưa cũ, thơ Ngân Giang vẫn có những câu dung dị, gây xao động tâm tư, kiểu như: "Ngõ đầy lá rụng sân rêu nhạt/ Dậu trúc lơ thơ dắt bóng chiều" (bài "Thôn lạ đêm trăng"), hoặc: "Tiếng thu nghe đã xạc xào khắp nơi/ Đừng rơi! Đừng rơi, lá ơi!/ Có ai góc biển chân trời nhớ nhau" (bài “Mấy nét đơn sơ"). Đặc biệt, sự tài hoa của Ngân Giang đã nổi bật lên so với các nữ thi sĩ cùng thời qua một bài thơ. Vâng, chỉ một bài thơ "Trưng nữ vương" thôi, chỉ một thôi mà thật khác nhau về đẳng cấp.
Từ trước tới nay, hình tượng hai Bà Trưng (Trưng Trắc, Trưng Nhị) nói chung và Bà Trưng Trắc nói riêng đã nhiều lần đi vào văn, thơ, nhạc, họa. Song đằng thẳng mà nói, ở thể loại thơ, hiếm có tác phẩm nào thể hiện được hình ảnh Bà Trưng Trắc đẹp một cách quyền quý, đài các như trong "Trưng nữ vương" của Ngân Giang. Có thể với những câu chữ đầy hình ảnh ước lệ, kiểu như: "khóe hạnh", "bóng sao rơi", "chim bằng", "đường kiếm mã", "gót ngọc"…, ta sẽ thấy "không gian thơ hơi ca kịch" (như nhà thơ Vũ Quần Phương nhận xét), song thiết nghĩ, chúng ta từng quen với một hình ảnh Bà Trưng Trắc mộc mạc, dân dã trong "Đại Nam quốc sử diễn ca" từng một thời được đưa vào sách giáo khoa (Bà Trưng quê ở Châu Phong/ Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên/ Chị em nặng một lời nguyền/ Phất cờ nương tử, thay quyền tướng quân/ Ngàn tây nổi áng phong trần/ Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên/ Hồng quần nhẹ bước chinh yên/ Đuổi ngay Tô Định dẹp yên biên thành/ Kinh kỳ đóng cõi Mê Linh/ Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta/ Ba thu gánh vác sơn hà/ Một là báo phục, hai là Bá vương…) thì cũng nên biết đến một hình ảnh Bà Trưng Trắc trong phong thái của một vị nữ vương đài các. Thật hiếm có câu thơ nào tả được nỗi cô đơn bi tráng của vị Nữ vương trong khi vừa để tang chồng vừa mưu đền nợ nước đẹp và ấn tượng như mấy câu thơ này:
 
Hồn người chín suối cười an ủi
Lệ nến năm canh rỏ ngậm ngùi
 
và:
 
Cờ tang điểm tướng nghiêm hàng trận
Gót ngọc gieo hoa ngát mấy trời.
 
Đặc biệt, hình ảnh xuất hiện ở đoạn kết bài thơ cùng với tiếng than não ruột đã nâng tầm bài thơ nên thành một bản "anh hùng ca" kết hợp với "tình ca". Cái đẹp, cái mới trong tâm hồn một nữ thi sĩ sống ở thế kỷ XX đã nhập vào tâm hồn của một nhân vật lịch sử sống cách đó hai chục thế kỷ, khiến tâm thế nhân vật trở nên sống động, gần gũi hơn với độc giả thời nay. Và đó là một trong những thành công của bài thơ. Không phải ngẫu nhiên mà với khổ thơ kết bài:
 
Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa
Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi
Chàng ơi, điện ngọc bơ vơ quá
Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ soi…
 
Vào ngày 25 tháng 3 năm 1969, trong khi đang ngâm vịnh cho các sinh viên Đại học Văn khoa Sài Gòn cùng thưởng thức, thi sĩ - nhà giáo Đông Hồ đã xúc động ngất xỉu ngay trên bục giảng, để rồi sau đó ít giờ, ông vĩnh viễn giã biệt thế gian. Cái chết của thi sĩ - nhà giáo Đông Hồ trong lúc trình diễn bài thơ của nữ sỹ Ngân Giang được cơ quan y tế xác định là do chấn động tâm lý, dẫn tới cơn tai biến mạch máu não. Đây được xem là một trong những giai thoại văn chương đẹp nhất từ trước tới nay.
 
 
Phạm Khải
(Nguồn: Báo CAND)
Chia sẻ:                   Gửi cho bạn bè
Mỗi độc giả cũng là một tác giả
(Mời bạn cho ý kiến, cảm nhận và lời bình sau khi đọc bài viết trên)
Họ và tên  *
Địa chỉ  *
Email  *
Điện thoại  *
Nội dung (bạn cần sử dụng font chữ Unicode, có dấu; ghi đầy đủ họ tên, địa chỉ, email, điện thoại,... Nếu thiếu các thông tin đó, có thể chúng tôi sẽ từ chối cho hiển thị
 
Các bài khác: