Không thiên về triết lý, không đao to búa lớn, những câu thơ của Trần Vũ Long gieo vào bạn đọc sự mộc mạc, hồn hậu theo kiểu duy tình. Bạn bè nhận xét, Trần Vũ Long “cồng kềnh nhưng dễ vỡ”, chẳng ai nghĩ người đàn ông trông rất giống một… ông Tây ấy lại có thể rơi nước mắt vì những chuyện hết sức đời thường…
Thơ có thể không hay nhưng không nhạt
* Tại sao anh lại đặt cho tập thơ của mình cái tên là “Niềm tin gió”. Anh có thể nói rõ hơn về cái tên này?
- Thứ nhất là trong trập thơ có một bài thơ là “Niềm tin gió”, nhưng điều quan trọng hơn, tôi thấy cái tên đó hợp với tâm trạng chung của cả tập thơ. Đó cũng là điều mà tôi suy nghĩ, trở đi trở lại nhiều lần mỗi khi cầm bút. “Niềm tin gió” đó là một niềm tin mong manh, hư ảo, có đấy mà không đấy. Ta đặt niềm tin, nhưng niềm tin đó có thể bay đi như gió mà ta vẫn phải chấp nhận. Cuộc sống này, xã hội này có quá nhiều điều làm cho ta mất niềm tin nhưng thôi ta vẫn phải đặt niềm tin để mà sống để mà viết vậy.
* Đọc “Niềm tin gió” thấy hình ảnh mẹ thiêng liêng và có một sự ảnh hưởng vô cùng lớn đối với anh. Anh có thể chia sẻ một chút về những tình cảm với mẹ của mình?
- Câu hỏi của anh đang làm tôi xúc động. Cũng như rất nhiều bà mẹ khác, mẹ tôi là người phụ nữ hiền lành, tần tảo, nhẫn nhịn và chịu đựng, hy sinh tất cả vì con cái. Quả thực, bất kể lúc nào, khi nghĩ về mẹ là tôi có thể chảy nước mắt. Có lẽ không chỉ riêng tôi, mà với hầu hết những người con trên thế gian này, tình mẫu tử là một tình cảm thiêng liêng nhất, thật khó diễn tả hết bằng lời. Khi mẹ qua đời, tôi đã hoàn toàn bị sụp đổ, mặc dù đã luôn chuẩn bị tinh thần cho mình là mẹ có thể ra đi bất cứ lúc nào trong suốt 5 năm trời. Phải mất nhiều năm sau, tôi mới lấy lại được sự cân bằng cho mình. Tôi đã viết rất nhiều về mẹ. Những bài thơ tôi viết về mẹ, hoàn toàn theo bản năng tình cảm. Tôi chỉ việc ghi lại tất cả những gì lóe lên trong đầu mình khi nghĩ về mẹ mà thôi, hoàn toàn không có ý định dùng kỹ thuật để trau truốt hay bố cục lại cho bài thơ đó. Vì thế, khi in tập thơ “Niềm tin gió” tôi đã phải lọc bớt những bài chưa đạt.
* Những người làm thơ trẻ hôm nay thường xoáy sâu vào bản thân, dốc cạn, đốt cháy cái tôi của mình, còn với anh dường như anh làm thơ vì… người khác, hướng đến người khác nhiều hơn cho cái tôi cá nhân. Anh có sợ như thế sẽ… lạc điệu?
- Theo tôi, việc các cây bút trẻ thường viết về cái tôi của mình cũng chẳng sao, nếu như từ cái tôi đó đem lại một thông điệp cho người đọc về cuộc đời, con người, sự sống hay thời cuộc. Chúng ta đang sống một cuộc đời có quá nhiều buồn vui đan xen, một xã hội có quá nhiều những mất mát, đau thương, ngang trái, vậy thì thơ phải là chỗ mà người đọc tìm thấy được sự đồng cảm, sẻ chia, nâng đỡ tâm hồn con người. Người đọc sẽ không thể bỏ phí thời gian để ngồi đọc những câu chữ kêu rủng rẻng, sáo rỗng viết về một nhân vật X Y Z nào đó mà không mang lại cho họ cảm xúc gì ngoài sự khó chịu. Cái sự sẻ chia với bạn đọc mà tác phẩm đem lại chính là giá trị nhân văn của văn học. Bởi vì chúng ta có thể tuyên ngôn trời biển gì thì cái đích cuối cùng của một tác phẩm văn học vẫn là tính Chân Thiện Mỹ, đã được định hình từ xưa đến nay và mãi là như thế.
* Đọc thơ Trần Vũ Long cứ có cảm giác cái nỗi niềm tác giả mang quá lớn, nhưng cái mà tác giả chuyển đến người đọc thì chưa nhiều. Còn những người khác, họ nhận xét về thơ anh thế nào?
- Bản thân câu hỏi của anh đã là một nhận xét có một góc nhìn mới mà tôi sẽ phải suy nghĩ. Còn những người khác nhận xét về thơ của tôi ư! Tất nhiên là có rất nhiều nhận xét. Người khen có, người góp ý về những nhược điểm thơ tôi cũng không ít. Bản thân tôi luôn biết mình còn những nhược điểm gì cần khắc phục và mình đang đứng ở đâu trong nghề văn đầy chông gai này. Nếu như tập thơ đầu tiên của tôi được viết trong một tâm thế rất tự nhiên, thoải mái thì tập “Niềm tin gió” là một sự nhọc nhằn. Càng viết tôi càng cảm thấy khó và đã có lúc cảm thấy nản. Trong khi đó thì các “nhà thơ” cứ mọc ra như nấm (cười). Riêng cá nhân tôi có thể tự nhận xét về thơ của mình thế này: Thơ của tôi có thể chưa hay nhưng không nhạt. (cười).
Cái gì cũng có lúc thịnh suy
* Ở bài “Thơ vui về mình” anh đã viết “Có người bảo sức dài vai rộng / Không làm gì lại đi làm thơ”. Tại sao anh không đi làm gì khác mà lại đi làm thơ?
- Tôi có một anh bạn làm nghề xe ôm và làm thơ, gần đây thơ của anh cũng đang được nhiều người quan tâm. Trong một lần trò chuỵện anh ta nói với tôi thế này, “nói thật với ông, ngoài làm thơ ra tôi chẳng biết làm gì cả”. Tôi mới đùa lại anh ta rằng, “ông cứ cố gắng chạy xe ôm cho tử tế, làm thơ cho hay. Sau này chết, người ta sẽ nhắc: Ui, cái ông xe ôm ấy trông thế mà tử tế lắm. Anh em văn chương và bạn đọc thì bảo: Ui, cái thằng đó làm thơ hay lắm. Thế là cũng đủ rồi”. Nói xong thì cả hai thằng bọn tôi cùng cười. Nhưng nói thật, ngoài việc viết báo và làm thơ tôi cũng chẳng biết làm gì cả. Tôi cũng đã thử kinh doanh đôi ba lần nhưng toàn bị mất (cười). Thế cho nên mới có bài “Thơ vui về mình”.
* Trong khi thơ vốn là mặt hàng bị từ chối ở các nhà xuất bản, dường như cửa ra duy nhất cho nó là các tác giả tự in. Trong tình trạng khá cám cảnh như thế rất dễ khiến người ta đánh mất đam mê. Với anh thì sao?
- Đúng là chưa bao giờ thơ lại bị rơi vào tình thế “cám cảnh” như vậy. Người đọc thơ ngày càng ít đi nhưng người làm thơ thì nhiều vô kể. Có lẽ chưa bao giờ nước ta lại “được mùa” về “đội ngũ làm thơ” như hiện nay. Nhiều người làm thơ như gà công nghiệp đẻ trứng. Anh biết đó, gà công nghiệp thì cứ thấy sáng đèn là đẻ. Cũng là một thứ sinh sản vô tính mà thôi. Đôi lúc cũng cảm thấy chạnh lòng. Nhưng dù sao, đó là cũng là quy luật quay vòng của tạo hóa. Nếu như ngày xưa, thơ ca được người ta tôn thờ như một thứ đạo linh thiêng, các nhà thơ được trọng vọng thì bây giờ là thời mà “Mọi cảm hứng song hành cùng lợi nhuận”, thơ bị mất giá. Nói cho cùng cái gì cũng có lúc thịnh lúc suy mà thôi. Hy vọng, một ngày nào đó thơ sẽ tìm lại chỗ đứng trong lòng độc giả như trước đây. Không biết với người khác thì thế nào còn đối với tôi, việc làm thơ là hoàn toàn tự nhiên, không thể khác được.
|
Trần Vũ Long sinh năm 1977 tại Hà Nội. Tốt nghiệp Khoa Báo chí, ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội. Các tập thơ đã in: Biến tấu lời, Niềm tin gió. Giải thưởng thơ Báo người Hà Nội (2001); Báo Tiền Phong (2002). Anh đang làm việc tại Báo Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam.
|
* Làm ở một tờ báo chuyên về văn học, với “thực trạng bi đát” về thơ như vậy, anh có cho rằng những người làm thơ thời nay là những người… dũng cảm?
- Với người khác thì không biết, còn tôi cứ nghĩ, trong thời buổi nhiễu nhương và loạn chuẩn về mọi thứ như hiện nay nếu như không có thơ để trải lòng mình thì chắc chắn tôi sẽ bị stress mà chết mất (cười). Tất nhiên, khi anh đã chọn cái này thì anh sẽ phải mất cái kia thôi. Trời không cho không biếu không ai cái gì cả. Chỉ có vậy thôi, có gì là dũng cảm hay không dũng cảm đâu.
* Một dung lượng lớn các bài thơ trong “Niềm tin gió” anh viết tặng các nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ. Làm thơ tặng người khác đương nhiên là trang trọng, nhưng khi tặng quá nhiều người thì có cảm giác tác giả hơi… dễ dãi. Anh nói gì trước điều này?
- Tôi từng nghĩ đến những bài thơ đề tặng người khác, liệu có ai đó cho rằng mình mượn tên người này người kia để làm chỗ đứng cho bài thơ không? Nhưng rồi tôi đã nhanh chóng gạt bỏ suy nghĩ đó ra khỏi đầu mình, bởi nó thật tầm phào. Còn ai đó nghĩ sao kệ họ. Những người mà tôi làm thơ rồi đề tặng đều là những người mà tôi yêu quý, kính trọng. Con người họ, tính cách họ, tài năng họ, hay một góc nhỏ nào đó trong cuộc đời họ đã thực sự tạo cho tôi cảm xúc để viết. Mình viết về họ nhưng cũng là tâm trạng của mình đã đặt trong bài thơ đó. Ví như nhà thơ Đồng Đức Bốn, tôi chẳng biết gì về con người ông nhưng thơ của ông đã ám ánh tôi và có những câu thơ khiến tôi bật khóc. Vậy là tôi kính trọng tài năng của nhà thơ Đồng Đức Bốn khi viết về ông. Còn bảo viết những bài thơ đó là sự dễ dãi thì không hề. Đối với tôi chẳng có bài thơ nào được viết một cách dễ dãi cả, bởi nó là những trăn trở, tâm trạng của mình về con người và cuộc đời này. Có lẽ vì vậy bạn bè bảo thơ tôi không lãng mạn (cười).
* Nhưng bạn bè anh lại bảo, Trần Vũ Long “cồng kềnh nhưng dễ vỡ”, họ nói đúng về riêng anh hay đa cảm là mẫu số chung của thi sĩ?
- Theo tôi, sự “dễ vỡ” là bản chất của các nhà thơ, chứ chẳng riêng tôi. Các nhà thơ đôi khi cứ vô tình đặt mình ra ngoài với số đông bởi sự nhạy cảm. Cái người ta chưa vui thì mình đã thấy vui, cái người ta chưa buồn thì mình đã thấy buồn, thậm chí cái người ta cười thì mình lại khóc cũng nên. Chẳng trách người ta vẫn bảo mấy ông nhà thơ là “nhặt lá đá ống bơ”… (cười).
* Vậy những gì sẽ khiến cho anh… dễ vỡ?
- Cái đẹp và tình người.
Dương Tử Thành thực hiện
(Nguồn: eVan.VnExpress)