Lời tác giả: Khi thực hiện biên soạn cuốn Hồi ký của Trung tướng Lư Giang, nguyên cán bộ tiền khởi nghĩa, nguyên Tư lệnh Quân khu Thủ đô chúng tôi đã vô cùng xúc động trước cuộc đời chiến đấu anh dũng đầy gian khổ hy sinh của ông. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trong lời mở đầu cuốn sách đã viết:
Đồng chí Trung tướng Lư Giang đã hoạt động cách mạng từ năm 1942, tham gia Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở quê nhà Bắc Giang 1945.
Đồng chí vào quân đội là đại đội trưởng của đội quân Nam tiến Bắc Bắc. Lần đầu tiên tôi gặp Lư Giang vào năm 1946, khi tôi đi kiểm tra tình hình các tỉnh miền Nam, gặp đồng chí đang chỉ huy đơn vị hành quân Nam tiến.
Suốt cuộc kháng chiến 30 năm chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, đồng chí liên tục chiến đấu ở chiến trường Liên khu 5, đã qua các cương vị chỉ huy Tiểu đoàn trưởng, Trung đoàn trưởng các trung đoàn chủ lực của Quân khu 5, Lữ đoàn trưởng, Sư đoàn trưởng, Tư lệnh Phân khu, Tư lệnh mặt trận Quảng Đà và Phó Tư lệnh Quân khu 5. Hòa bình lập lại, đồng chí đã trải qua gần 10 năm là Tư lệnh, Bí thư Đảng ủy Quân khu Thủ đô, đại biểu Quốc hội khóa VII, VIII.
Đồng chí là một người cộng sản kiên trung, một vị tướng có đức độ và tài năng, trưởng thành từ cơ sở, dạn dày trong chiến đấu, lập được nhiều chiến công, sống khiêm tốn, trung thực, gần gũi thương yêu cấp dưới, hết lòng phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân, luôn hoàn thành mọi nhiệm vụ được Đảng và nhân dân giao phó, nêu một tấm gương sáng về phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”.
Hà Nội, ngày 24 tháng 7 năm 2008
Đại tướng Võ Nguyên Giáp
******
Ở một người gần trọn vẹn một cuộc đời chiến tranh giặc giã như Trung tướng Lư Giang hẳn nhiên có quá ít thời gian dành cho những người thân của mình. Bao nhiêu binh biến, thăng trầm trải mấy miền đất nước. Bao nhiêu đồng đội của ông ngã xuống xanh cây cỏ, núi rừng. Chiến tranh, những người lính nối nhau ra đi không trở lại. Xứ Kinh Bắc huyền thoại có người con giản dị Lư Giang thường lặng lẽ đối diện lòng mình sau những trận đánh khốc liệt không cân sức vùng Liên khu V xác xơ, nghèo đói ngay sau cách mạng Tháng Tám. Mình lại tìm về với mình. Thoáng thôi mà sao xa ngái. Phía trước là cái đích của ngày toàn thắng, là những lời căn dặn của Bác Hồ, của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, là những cái xiết tay thật chặt. ánh mắt lóe như sao băng trong đêm thẳm, dặn dò, tin cậy và im lặng. Có những lúc trên chiến trường không tiếng súng, sự im lặng như một thách thức khiến những người lính kiên cường nhất cũng trĩu nặng tâm can. Rồi họ xốc lại tinh thần của chính mình. Cái đích là ngày toàn thắng...
Thực hiện biên soạn cuốn hồi ký của Trung tướng Lư Giang lắm lúc tôi thấy lòng mình thắt lại. Mưu sinh công việc bời bời sao cứ lặng đi trước những số phận người thân của vị tướng chiến trận này. Điều đó như giải thích tại sao tôi luôn linh cảm Lư Giang thường im lặng dõi vào lòng mình đã từ lâu, từ rất lâu...
Gia đình từng danh gia vọng tộc ở vùng đất Gàng - Vô Tranh - Lục Nam - Bắc Giang, mảnh đất xưa kia Vương triều Trần thường phái những vương tôn, tướng lĩnh tài giỏi trấn nhậm, phong đất tạo lập điền trang gia thất làm phên dậu che chắn cho Tổ quốc. Một điều chắc chắn nếu không theo nghiệp võ hẳn Lư Giang sẽ theo nghiệp văn chương vì qua những trang viết thuở đầu đời đã và chưa công bố, văn nghiệp đã bén duyên ông lắm. Làm thân nam tử, đất nước có họa ngoại xâm ai nỡ đứng nhìn. Sau này, khi đã ở trong đội quân Nam tiến đầu tiên ngay sau Cách mạng Tháng Tám, khi người vợ thân thương và người cha bị lũ giặc o ép, đánh giết, Lư Giang đã thấy mình thuộc hẳn về nhân dân cần lao. Và chiến tuyến mà ông xác định đã rõ ràng. Rõ ràng trong im lặng. Ông khóc bằng máu ở trong tim.
Người vợ đầu của ông, cô thanh nữ Trương Thị Hạnh quê Giáp Sơn - Lục Ngạn - Bắc Giang mất khi mới tròn 24 tuổi. Là người con gái đẹp nhất vùng Lục Ngạn bấy giờ, cậu thanh niên Lư Giang mê đắm ngay từ cái nhìn đầu tiên khi hai người tình cờ gặp gỡ. Thuở ấy hai gia đình đều danh giá, môn đăng hậu đối nên việc trăm năm của đôi trẻ sớm thành. Quên sao được buổi đón dâu độc đáo, cô gái như một nữ hiệp, váy trắng, mũ trắng, giầy tất trắng cưỡi con ngựa trắng thuần thục bên chú rể nho nhã thư sinh rụt rè nhỏ bé. Và pháo nổ. Pháo nổ vang trời mừng đôi trai tài gái sắc. Để thoáng thôi, thoáng thôi là loạn lạc điêu linh.
Trong căn nhà nhỏ nằm ở một góc khuất cuối thành phố Hà Nội sát đoàn Nghi lễ 781, người con gái đầu của Trung tướng Lư Giang nay đã lên chức bà ngoại lặng lẽ nhỏ ra những giọt nước mắt. Mắt chị khóc mà như cười, lấp lánh sáng, lấp lánh nhìn lên bức ảnh cha mình đang đứng kia, lặng lẽ tựa sát vào vị Đại tướng Tổng Tư lệnh, người anh cả của Quân đội trong khung ảnh nhỏ trên bức tường màu vàng. Ngoài kia gió đang thổi. Ngoài kia nắng đang tan trên những tầng lá xanh miên man của thành phố Hà Nội, Bắc Ninh, Bắc Giang, của khu III, khu IV, khu V và đâu đó. Ngoài kia con sông Hồng đang chảy. Sông Hồng mấy năm nay như càng gầy guộc thắt ruột thắt gan vặn mình ra biển. Và, ở nơi biển xanh, trời xanh, mây trắng, hẳn Trung tướng Lư Giang vẫn đang dõi theo đứa con gái nhỏ bé mới lọt lòng đã chịu nhiều thua thiệt. Con sông thì thầm nói lời người cha từ xa thẳm. Một kiếp người đâu phải lúc nào cũng có thể bày tỏ, phân bua. Một kiếp mưu sinh càng không biết trước điều gì. Phía trước là đường xa dặm thẳm, là chiến tranh loạn lạc, côi cút, bơ vơ, bom đạn, đói khát, thất học, một thân một mình. Người phụ nữ gầy nhỏ đến hôm nay vẫn luôn nhắc tới người mẹ, một trang tuyệt sắc sớm yểu mệnh, lắm lúc chị thì thầm như nói với ai đó, ở đâu đó xa lắm. Chị cười. Một giọt nước mắt lăn xuống đôi cánh tay, vỡ ra rồi tan thấm vào bộ đồ giản dị. Chồng chị cũng đã mất. Chồng chị ra đi theo người cha suốt đời chiến trận đã mấy năm nay. Nhắc đến chồng, nước mắt người phụ nữ lại nhỏ xuống. Ôi, cuộc đời của chị...
Khi sinh đã không biết mặt cha, lên hai tuổi chị lại mồ côi mẹ. Quãng đời trước đó cũng vô cùng cơ cực với đứa trẻ lên hai. Chiến tranh bùng nổ. Người bố, chiến sĩ Lư Giang vào chiến trường. Khi ấy cô bé hai tuổi không hiểu được chiến tranh. Chỉ sau này, khi đói khát, khổ sở và thiếu thốn chị mới hiểu thế nào chiến tranh, là mất mát.
Trong đội quân Nam tiến năm 1945, có không ít lúc Chi đội trưởng Lư Giang im lặng dõi về đất Bắc. ở đó, có những phần máu thịt của ông. Chắc ông đã nghĩ đến những tình huống xấu nhất. Tình huống đứa con gái bé bỏng, người vợ nhỏ hiền thương, người cha cương nghị của mình gặp bất trắc. Nén dòng nước mắt chảy vào trong, ông hướng nòng súng lên phía trước. Chi đội Bắc Bắc vào chiến trường miền Nam sớm, chiến đấu và không ít người đã hy sinh, nằm lại ở tuyến đầu. Máu nào cũng ngấm vào đất mẹ, hòa ra sông, ra biển, nuôi lớn chí căm thù.
Mãi sau này, năm 1954, khi tập kết ra Bắc, bộn bề công tác đoàn thể, mãi đến năm 1956 ông mới biết rõ hoàn cảnh gia đình mình. Vợ bị ép lấy tên lý trưởng, liền sau đó uất ức mà chết. Bố ông, người hào phú học rộng biết nhiều bị giặc bắt, giam cầm và đánh chết vì có mấy con đi kháng chiến. Và, đứa con gái bé bỏng của ông ở với ông chú bà dì, xóm mạc vùng đất Vô Tranh đá sỏi cũng bị soi mói, đe noi. Lư Giang im lặng. Ông im lặng dõi vào cõi lòng mình và dường như kể từ đó là một Lư Giang khác. Lầm lì, dũng cảm, kiên định, táo bạo, tỉnh táo, gan góc trong suốt hai cuộc chiến tranh. Kể từ đó, một nghị lực, một niềm tin sắt đá cháy bền bỉ trong đội ngũ những người cộng sản đã tạo thành một Lư Giang bằng thép trên các chiến trường ác liệt. Kể cả thời bình, thời kỳ Liên xô và Đông Âu tan vỡ con người bằng thép ấy vẫn không suy suyển.
Trở lại với người con gái nhỏ thiếu cha, mồ côi mẹ từ tấm bé Lê Thị Chinh đang se sắt ngồi trong phòng khách đơn sơ dưới tấm ảnh cha và chồng đã không còn nữa, tôi bất chợt im lặng, không biết tiếp tục câu chuyện như thế nào thì chị kể, chị kể như bộc bạch với người cha, có lúc tự hào rân rấn, có lúc như thương cha, hờn cha, lại có lúc như tự thương mình. Cuộc đời của chị hiện ra khi liền mạch, khi đứt nối nhưng thảy đều nhất quán, nhất quán và kiên định như tính cách người cha.
Đời tôi ở bên cha cộng từng giờ cũng chỉ khoảng hơn một năm, lại chia thành nhiều giai đoạn. Cha tôi chủ yếu ở chiến trường. Bố mất, vợ mất - ở chiến trường. Con gái cưới, sinh nở - ở chiến trường. Mọi chuyện học hành, công tác, nơi ăn nơi ở chúng tôi tự lo. Mà chủ yếu dựa vào tổ chức. Nhưng bố tôi cưới vợ thì các chú bạn bố và đặc biệt dì tìm mọi cách đón tôi đến. Mới đầu các chú bảo bố ốm, tôi vội vàng đi. Sau khi đến thấy văn công hát hò inh ỏi. Và tôi biết sự thật. Khi ấy tôi mười một tuổi, đã ít nhiều hiểu biết, tôi khóc. Tối tân hôn của bố, tôi cứ đòi ngủ với bố. Và, bố với dì đã chiều tôi. Chị cười, giọt nước mắt còn chưa khô trên má. Giai đoạn ấy chủ yếu chị được người cha đang ở chiến trường gửi đi học ở các trường con em miền Nam, miền Bắc, có lúc sang tận Quế Lâm, Trung Quốc. Mười tuổi mới học lớp một, hai mươi tuổi học lớp mười, thế mà cũng vào đại học, thành sĩ quan, bác sĩ. Cuộc chiến tranh có những điều quả thật rất thần kỳ.
Chị có ba người con gái (lại ba cô con gái giống với cha mình). Hai cô lớn đã lấy chồng, cô cả Nguyễn Thị Hải Vân hiện sống với chồng ở thành phố Hồ Chí Minh. Lên chức bà lại một thân một mình chăm sóc cháu. Chồng chị, bác sĩ quân y mà mất vì bệnh nan y. Những ngày con rể ốm, Lư Giang đến thăm, mắng yêu: “Cha mi. Mi chết trước tao là không được đâu nghe. Tao không khóc mi đâu. Cố mà sống chứ, con...”. Và lúc ấy, Lư Giang khẽ cười, nụ cười nhăn nheo, hiếm hoi của người lính trận.
Cha thương tôi lắm, chị Chinh cầm một bức ảnh trên bàn khẽ thì thầm. Ông cụ nghiêm nhưng thương con, thương cháu. Có những hôm ông đến, lặng lẽ đạp xe đến thăm con, mấy cháu thấy ông ngoại nằm xuống ghế, thi nhau chạy đến, dẫm lên người ông. Người ông vốn nhỏ, rặt xương là xương nên cứ ự ự, con gái xót cha, quát lũ trẻ. Lư Giang cười hiền, mắng “Tổ cha mi. Người tao chứ người mi à...” ở những lúc ấy, Lư Giang như trẻ lại. Những éo le cuộc đời như lùi cả ra xa.
Ngồi một lúc vui vui chị lại nhắc tới mẹ đẻ của mình, nhan sắc mà phận bạc. Mẹ chị đẹp lắm. Tóc dài lắm. Chị không có ký ức nhiều về mẹ mà chỉ qua cha, qua những im lặng của ông mỗi lúc về làng, qua những so sánh ngây thơ của chị. Nhìn thấy một phụ nữ đẹp, chị chỉ trỏ, bình phẩm, Lư Giang thở dài, ngao ngán lắc đầu. ấy là cái thuở chị còn nhỏ mười một mười hai tuổi. Bây giờ, tiếp theo mẹ, cha cũng đã khuất núi rồi. Còn mãi trong chị là hình ảnh cô dâu mặc váy cưới cưỡi ngựa, pháo nổ xém cả bộ váy trắng muốt. Hay là ông tạo hờn ghen...
Nghiêm khắc là thế mà cũng có lần chị cự lại bố mình. ấy là cái dạo ông mới học ở Liên Xô và Cu Ba về. Cứ mỗi tháng, Trung tướng Lư Giang lại họp toàn bộ đại gia đình lại (vợ và con gái, con rể đều là bộ đội và đảng viên) ra nghị quyết, có thư ký hẳn hỏi, thường thì vợ ông làm thư ký. Cuộc họp luôn diễn ra khá căng thẳng, kiểm điểm tình hình mọi mặt, đề ra các nhiệm vụ trong tháng, trong quý. Đến lần thứ ba thì cô con gái cả không chịu, bảo, thôi cha ơi, đã suốt ngày họp hành chán chê ở cơ quan rồi, giờ về lại họp, lại nghị quyết thì mệt lắm, và chị bỏ. Trung tướng Lư Giang nghiêm khắc là thế cũng cười xòa. ừ, thời bây giờ nó khác. ừ, thì thôi, nhưng mà...
Những người thân trong cuộc đời chiến trận của Trung tướng Lư Giang thường có những số phận khác thường. ấn tượng với tôi là người em gái ruột của ông, bà Lê Thị Ngọ, sinh năm 1924, năm nay đã 84 tuổi mà vẫn còn nhanh nhẹn, vẫn đi thăm con đang học năm thứ hai tại Học viện Quân y. Cuộc đời của bà Lê Thị Ngọ là cuộc đời éo le cùng cực của những người phụ nữ Việt Nam vướng vào chiến tranh, giặc giã. Trong đợt Tây càn năm 1950, người cha bị Tây đánh đến chết (chết đúng ngày mùng Một tết) và đứa con gái tức là bà Ngọ bị Tây làm nhục, sau mắc bệnh và đến tận bây giờ lắm lúc thần kinh vẫn hốt hoảng, bất an. Giới thiệu người em gái của chồng với tôi, bác Hàn Dịu Trang, vợ sau của Trung tướng Lư Giang cười trong nước mắt. Thế mà giỏi lắm đấy, tám mươi tuổi mới có con vào đại học. Cả nước có người nào như cô. Thế là sướng nhất cô còn gì. Cái thằng Nguyễn Tranh Thủ cũng Trung uý rồi còn đâu. Mấy lần ra Trường Sa nó chả gửi cho cô tiền xây nhà đấy thôi. Hai người đàn bà tuổi trên dưới tám mươi tựa vào nhau cười trong ngấn nước mắt. ừ nhỉ, cuộc đời sao mà giống cổ tích quá. Cứ tưởng đã khép một đời người thì lại mở ra một đời người khác. Có mẹ, có con, có cháu. Cô con dâu, vợ Trung uý Nguyễn Tranh Thủ đã là cô giáo hiện dạy học ở Bắc Giang. Cứ yêu thương nhau là có cuộc đời, có hạnh phúc, ấm no.
Chắc chắn không ai nghĩ bà Lê Thị Ngọ lại có được quãng đời hôm nay. Khi đã ở cái tuổi 45, mọi thứ dường như đã khép với người đàn bà dở tính không chồng thì có một anh bộ đội đến, anh là người dân tộc, quê ở tận Bình Định đóng quân ngoài này. Họ lặng lẽ đến với nhau. Cũng chả cưới xin gì. Khi có thai mấy tháng anh bộ đội được lệnh đi B, sau đó hy sinh ở chiến trường. Anh không biết con mình là trai hay gái. Chị không biết tên anh, chỉ nhớ mặt, chỉ nhớ anh hay thì thầm dặn đặt tên cho con. Thế mà đã gần bốn mươi năm...
Bây giờ, qua bao thăng trầm, con anh đang là học viên trên giảng đường Học viện, nó cũng đã là bố của thằng cu ba tuổi. Ôi! Ông trời có mắt. Trời không đóng cửa nhà ai. Câu chuyện đứt nối trong nước mắt. Thỉnh thoảng, bác Trang nhìn tôi cười. Khổ lắm mi ơi! Khổ lắm. Thôi thì chị em nương tựa vào nhau. Cái thằng Thủ cũng là đứa con ngoan, có hiếu, ham học, biết người trên kẻ dưới. Cũng là con cháu một nhà, máu chảy ruột mềm. Nó cũng là đồng đội với các con...
Tôi lặng người trước câu nói của bác Trang, người bạn đời thuỷ chung, son sắt của Trung tướng Lư Giang. Chiến tranh đã tôi luyện những phụ nữ trở thành can đảm, kiên cường và yêu thương nhất mực, biết nhường nhịn, hy sinh vì chồng, vì con, vì cái chung, vì nghĩa lớn. Đại tá Hàn Dịu Trang là điển hình của mẫu người phụ nữ kiên nghị, biết thu xếp mọi công việc trong gia đình để chồng an tâm công tác. Là vợ một vị tướng trận, hơn ai hết, bà Trang hiểu mình phải làm gì trong những giờ phút khó khăn nhất. Bản thân cũng nhiều lần vào chiến trường, lên tuyến đầu chiến đấu và công tác. Hai người lính chung một chiến hào ... Có một không gian nào, đo được chiều dài nỗi nhớ. Có khoảng mênh mông nào sâu thẳm hơn tình yêu thương. ở hai đầu nỗi nhớ yêu và thương sâu hơn. ở hai đầu nỗi nhớ nghĩa tình đằm thắm hơn... Có biết bao nhiêu lần, ở giữa chiến trường, khi cách xa nhau bời bời bom đạn, bà đã thì thầm với chồng bằng những câu hát như thế.
Trong đại gia đình Trung tướng Lư Giang, bà Trang như một người chính uỷ mềm mỏng và cương quyết. Bà chăm sóc chồng, chăm sóc con cháu tận tình, chu đáo. Với sự minh mẫn hiếm thấy ở cái tuổi ngót tám mươi cho thấy sự rèn luyện sức khỏe của bà thật tuyệt vời. Nhắc đến ông, nhiều lần nước mắt bà nhỏ ra, thầm thôi nhưng đó là tiếng lòng ở cõi rất riêng, rất sâu nhưng cũng rất chung trong nỗi mất mát lớn lao ấy. Hẳn bà còn nhớ những ngày mới cưới, người chồng giản dị, ít nói nhưng nhất mực yêu vợ, thương con, sống tình cảm với mọi người đã sớm cho bà một niềm kính trọng từ sự từng trải, lịch lãm và tác phong nghiêm khắc quân lệnh như sơn. Ngày còn sống, còn có thể giận cái sự nghiêm khắc, nguyên tắc thái quá chứ khi ông mất rồi, bà mới thấy trống trải, mới nhớ đến thắt lòng những nguyên tắc của ông. Cuộc đời kể cũng lạ, ông với bà đến với nhau như có cơ duyên tiền định. Hơn bốn mươi năm làm bạn với ông, vợ chồng ít khi được ở gần nhau nhưng cho đến bây giờ, ông vẫn như đang ở bên bà, dù đã mười bốn năm ông mất.
Bà Trang châm mấy nén hương. Khói hương vẽ lên trần nhà màu trắng đùng đục, ngoằn ngoèo. Khói hương lan tỏa, chia ly, cách trở. Đã bao nhiêu đồng đội của ông hy sinh. Đã bao nhiêu lần bà và ông lặng im bên những nấm mộ liệt sĩ có tên hoặc khuyết danh ở các nghĩa trang trên cả nước. Là một vị tướng trận, ông đã bao đêm thức trắng, tính toán chi li, tiết kiệm từng giọt máu đồng đội. Chiến tranh là một cái gì đó quá tàn khốc, đôi khi quá sức chịu đựng của con người.
Khói hương ấm vững đưa chúng tôi về thực tại. Xa ông, bà càng thấy rõ trọng trách của mình trong quãng đời còn lại. Đường xa dặm thẳm ông đã đi qua, hôm nay chỉ còn lại mình bà. Chiến tranh giặc giã cũng đã qua. Người còn, người mất. Cuộc đời chiến đấu của ông, của bà là một cuộc đời không thể lặp lại. Chỉ có thể điềm tĩnh mà đi nốt con đường sao cho có thuỷ có chung. Nhớ về ông, bà luôn nhớ đến Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vị anh Cả của quân đội, vị anh cả của Trung tướng Lư Giang, trong chiến đấu và cả sau này. Ngày Lư Giang sắp mất. Đại tướng đến bệnh viện 108 thăm ông. Hai vị tướng nhìn nhau trong im lặng. Người anh cả đến sát đứa em bé bỏng nắm chặt bàn tay. Ôi Lư Giang! Một thời nằm gai nếm mật, gan góc, kiên trung bây giờ nằm đây, nhỏ bé, im lặng. Mắt của hai vị tướng chợt cay cay. Đại tướng cầm mãi tay người chiến sĩ mấy lần Nam tiến kiên cường, cả một đời cùng ông, cùng nhân dân trải bao trận mạc.
Câu chuyện về hai cô con gái Trung tướng Lư Giang với bà Hàn Dịu Trang khiến tôi xúc động. Xúc động về đức hy sinh của gia đình vị tướng. Ngay sau đám cưới một thời gian, khi hai cô con gái hãy còn quá bé bỏng, năm 1964, Lư Giang nhận mệnh lệnh trở lại chiến trường khu V, nơi trận chiến đang diễn ra cực kỳ ác liệt, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai mở những nấc thang chiến tranh mới. Tạm biệt mái ấm gia đình, Lư Giang lên đường bước vào cuộc chiến đấu. Những đêm đầu trên chặng đường hành quân, hẳn Lư Giang không thể nào quên hai đứa con gái bé bỏng và người vợ dịu diền mới hôm qua thôi còn sum họp, còn kề cận. Chiến tranh một lần nữa thử thách gia đình người lính, người lính lại đi về phía có tiếng súng của kẻ thù.
Chị Lê Thị Hải Lê rất giống cha mình, lặng lẽ, kiên nghị và có phần bướng bỉnh. Hai chị em Hải Lê và Hải Phương sớm có cuộc sống tự lập từ khi mới năm sáu tuổi. Ngay sau khi Lư Giang đi chiến trường, năm 1965, theo yêu cầu nhiệm vụ, bà Hàn Dịu Trang vợ ông cũng vào tuyến lửa. Hai đứa trẻ mới mấy tuổi đứng vịn tựa vào nhau tìm mẹ bên vệt đường lầm bụi đất trong đêm tối. Bà Trang nhớ con sợ không đi nổi đã lén ra đi vào lúc nửa đêm. Trong chiến tranh, có cuộc chia tay nào giống cuộc chia tay nào. Nước mắt trẻ thơ đã thấm vào từng tấc đất trong những cuộc chia tay tủi hờn như thế.
Hai chị em bìu ríu chăm sóc nhau, đến năm 1967 được tổ chức gửi sang Trung Quốc học ở Quế Lâm. Khi ấy, Hải Phương còn bé vào lớp Mẫu giáo và Hải Lê vào lớp Một. Nơi đất nước Trung Hoa mênh mông, những đứa trẻ Việt Nam chập chững đến trường trong tình yêu thương của thầy, của bạn. Những lúc ấy, ý thức về cha mẹ, về ngôi nhà trong khu tập thể rộng chín mét vuông, về những cô bạn nhỏ xinh ở Việt Nam đã sớm dày vò hai đứa trẻ. Chị Hải Phương, cô bé Mẫu giáo xinh xinh trường Quế Lâm ngày nào hiện đã là Đại tá, bác sĩ Quân y Viện 108 hẳn không thể nào quên tuổi thơ cơ cực, sớm xa gia đình, sớm đứng trong đoàn thể của mình. ở chiến trường, vợ chồng Lư Giang nhớ con chỉ biết trút nỗi nhớ thương lên đầu ngọn súng. Và, riêng với Lư Giang, những người thân của ông sao quá đỗi thiệt thòi, thân phận, bạc mệnh, oan khuất, ly tán đã cho ông một suy nghĩ khác thường trong cuộc chiến. Đó là cái đích hướng đến ngày toàn thắng. Trong những lúc khốc liệt nhất, ông luôn nghĩ đến cái đích ấy, phấn đấu và chờ đợi cái đích ấy, bằng máu và bằng sự chia ly dằng dặc, ba bốn phương trời. Cái đích ấy chính là Đại thắng mùa xuân 1975.
Có những lúc, ở những năm sáu mươi, bảy mươi, chị em Hải Lê - Hải Phương hầu như không còn nhớ khuôn mặt cha mình. Năm 1974, trong một lần ra Bắc báo cáo tình hình mặt trận với Bộ tổng Tư lệnh. Lư Giang về thăm con, hai đứa trẻ bây giờ đã lớn, Hải Lê năm ấy đã 13 tuổi đứng nép vào góc nhà sợ sệt. Cha đây con! Hai đứa con gái nhỏ lấm lét nhìn người đàn ông râu ria, đen sạm, khắc khổ, gầy gò đang nhận là cha mình. Hai đứa trẻ nhìn nhau. Hải Phương ngước mắt nhìn chị dò hỏi. Rồi, với sự linh cảm ruột rà, Hải Lê dắt em chạy đến ôm cha. Ba bố con đều khóc. Đêm ấy, Lư Giang không ngủ. Đêm ấy, vợ ông, bà Hàn Dịu Trang đang ở chiến trường.
Cô con gái Hải Phương sau này được Trung tướng Lư Giang dành cho nhiều tình yêu thương nhất. Bé bỏng, từ nhỏ xíu đã phải theo chị, theo tổ chức học tập, sinh sống nhiều nơi. Sau này, khi bắt đầu ổn định cuộc sống thì bố không còn nữa. Những ngày Hải Phương học ở Đại học Quân y, có nhiều hôm, tướng Lư Giang đạp xe đến đón con, đứng chờ ở cổng như một ông bố công chức chiều cô con gái rượu chứ không phải là một vị tướng Tư lệnh, vị đại biểu Quốc hội khả kính. Đó cũng là cá tính của vị tướng chiến trường. Trong đời thường, ông là một người chồng, một người cha giản dị, hồn nhiên như những người bình thường. Đó là Lư Giang của đời thường. Những lúc ấy, ông thực sự hạnh phúc. Hạnh phúc từ những điều nhỏ bé, đang diễn ra từ chính cuộc sống của mình.
Cảm nhận tình cảm của cha mẹ, đặc biệt là người cha dành cho mình, chị Hải Lê và chị Hải Phương thường ít nói về những quan tâm bề nổi mà luôn nhắc đến chiều sâu nhân cách của ông. Ông là một tấm gương về đạo đức sống, lề lối làm việc, tác phong công tác rất chuẩn mực và cao hơn cả là một tấm lòng nhân văn hiếm thấy. Có lẽ do đã chứng kiến quá nhiều sự hy sinh của đồng chí, đồng đội mà ông cực kỳ quý trọng con người, vì con người, coi trọng học đạo làm người là trên hết, hơn mọi thứ phù hoa, phú quý ở đời. Có thể nói rằng, số phận, chiến tranh đã giáng vào đời ông, người thân của ông những đòn ghê gớm. Nhưng, cũng chính từ lầm than ấy, ông đã vùng lên, nén đau thương mất mát đứng dậy làm người. ở ông, nghị lực, ý chí và niềm tin luôn cháy bỏng, bền bỉ, và kiêu hãnh suốt cuộc đời chiến sĩ, chiến trận của mình.
Tôi chưa một lần gặp gỡ, trò chuyện với ông nhưng tôi vẫn hình dung rất rõ về con người Trung tướng Lư Giang và linh cảm ông luôn có một mối thiện cảm và niềm tin đặc biệt vào Đại tướng Tổng Tư lệnh các lực lượng vũ trang, người anh Cả của quân đội ta, Võ Nguyên Giáp. Ngay từ những ngày đầu Nam tiến năm 1945, rồi dằng dặc hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, và sau này, suốt hơn mười năm ở cương vị trọng trách của Bộ Tư lệnh Quân khu Thủ đô, lúc nào và ở đâu, ông cũng luôn nghĩ đến người anh Cả của quân đội với những suy nghĩ sâu sắc, niềm tin mãnh liệt chính từ đạo làm người của vị tướng lừng danh. Không biết bằng cách nào, có thể nói là một sự kỳ diệu khó giải thích, đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn luôn truyền được ngọn lửa tất thắng cho các tướng lĩnh, binh sĩ của mình trong mọi hoàn cảnh, cho dù là ở những hoàn cảnh éo le, khốc liệt nhất. Cái thời Trung tướng Lư Giang làm Tư lệnh Quân khu Thủ đô (1980 - 1989) là cái thời kỳ cực kỳ gian khó. Hòa bình rồi mà còn khó khăn hơn đánh trận. Phía Nam, phía Bắc đều căng thẳng ở biên giới, kinh tế đất nước cực kỳ khốn khó, suy kiệt, phương Tây cấm vận ngặt nghèo, Liên Xô và Đông Âu bên bờ tan rã, lòng người mệt mỏi, niềm tin vào Đảng của nhân dân có lúc bị lung lay. Là một người lính chỉ quen đánh giặc, ông phải làm gì lúc ấy. Có những lúc, ông đã im lặng rất lâu dõi sâu vào cõi lòng mình. Và, khi ấy, ông luôn tìm đến Đại tướng, người anh Cả của các Lực lượng vũ trang nhân dân, không thuần là gặp gỡ mà là hướng tâm về người anh Cả. Thật kỳ diệu, mọi thứ được tháo cởi dễ dàng, khó khăn mấy rồi tất cả sẽ qua. Những lúc ấy, những người lính già, những vị tướng trận đã tựa vào nhau, vững chắc như thành đồng vách sắt.
Kể về mối quan hệ của cha mình, gia đình mình với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, bác Trang, chị Chinh, chị Lê, chị Phương chợt trang nghiêm hơn, mọi người bỗng cảm thấy có một sức mạnh ở đâu đó đang truyền về những đôi vai nhỏ bé.
Trong những tâm tình trò chuyện với bác Ngọ, bác Trang, chị Chinh, Chị Lê, chị Phương, tôi như nghe thấy tiếng chim lích rích đâu đó vọng về. Tại sao khi trò chuyện về chiến trận không phải là tiếng súng mà lại là tiếng chim lích rích buổi bình minh được nhỉ? Tiếng chim sẻ, chim ri, chích bông, sáo sậu từ Gàng - Vô Tranh - Lục Nam - Bắc Giang hay tiếng chim từ những khu rừng đại ngàn Liên khu V, hay là tiếng chim từ cây khế góc vườn mà Trung tướng Lư Giang thường hay dõi nhìn ra đấy. Không biết là từ đâu nhưng tiếng chim vẫn lích rích, lích rích len vào tâm trí tôi, một người trẻ tuổi, một thế hệ cầm bút và cầm súng nối tiếp con đường cha anh lựa chọn. Tiếng chim ấm áp, da diết, vang sâu trong tâm hồn mỗi người ngồi đây, đang nhớ đến ông, một người lính, một vị tướng, một người cha, người chồng bình dị. Có những lúc, mọi người đều im lặng để tiếng chim thầm hót trong mỗi trái tim mình, riêng chung, ngọt ngào, thấm đẫm.
Và, thật kỳ diệu, sau tiếng chim là ánh nắng chan hòa ùa đến. Nắng lên. Nắng tràn lên những cỏ cây, bảng đồng, bia đá. Nắng bừng lên dưới sắc cờ. Nắng tràn lên các nóc phố, góc nhà, vạt đồi, đỉnh núi, đáy khe. Nắng tung tăng bước chân em nhỏ tới trường, anh chị công nhân vào nhà máy, ngôi sao chiến sĩ nơi biên giới, hải đảo. Nắng dọi vào những số phận được mất, thua thiệt, oan khuất, hy sinh, lẫm liệt, vinh quang...
Nắng tràn căng, đủ đầy, minh triết.
Nắng bình yên dưới sắc cờ Hà Nội.