Trần Hồng Giang được bạn đọc biết đến không chỉ là một trong những thành viên quản trị của trang website: lucbat.com, mà còn bởi nghị lực sống và sự say mê sáng tạo của anh. Quê anh ở Nam Định, một vùng đất vốn có nhiều văn nhân, đấy là quê ngoại của Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến; tài hoa thi gia Nguyễn Bính... Nhưng chàng trai người Thành Nam Trần Hồng Giang đến với thơ như một lẽ tự nhiên, đó là lẽ sống, bởi với anh viết là để níu kéo lại với cuộc đời. Một tai nạn bất ngờ ập xuống cuộc đời anh khi mới hơn năm tuổi, khiến anh bị liệt. Nhờ người bố cũng là một giáo viên đã kiên trì dạy anh học chữ và anh đã cố gắng dùng má để cầm bút, tự học và sáng tác. Anh còn tự học ngoại ngữ để dịch thơ và các các thể loại khác. Khi có chiếc máy tính, việc viết của anh được cải thiện hơn. Sau tập thơ đầu tay “Nỗi nhớ mùa hè” (Hội văn học Nghệ thuật Nam Định xuất bản năm 2003, tái bản 2005), vào quý 2-2011 anh cho ra đời tập thơ thứ hai “Chuồn chuồn phố” do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành.
Tập thơ của chàng trai tuổi gần tứ tuần (Trần Hồng Giang sinh năm 1974) với 42 bài thơ trải qua 70 trang sách, nhưng “Chuồn chuồn phố” đã giãi bày với người đọc những nỗi niềm, những suy tư trăn trở và truyền tới người đọc những ước vọng, khao khát về không gian. Anh đã quan sát không phải bằng hiện thực mà bằng cảm giác qua một hoàn cảnh rất đặc biệt: “Hé mắt nhìn qua kẽ tay/ Ngoài kia nắng vẫn len đầy lối đi...” (Vô đề). Câu thơ là sự lắng lại những ước ao sau những nhọc nhằn, dở dang, nếm trải những đắng cay, được mất, những mưu mô xảo trá và thật thà, vô ưu... Phải lắng qua nỗi đau mới nhận thức được giá trị cuộc sống, mới đi đến tận cùng cảm giác vô định: “Đưa tay hứng một vốc đầy bụi mưa!...” Câu thơ này trong bài “Nhịp tháng Hai”, theo tôi là sự xuất thần của tác giả. Đây là sự khát vọng không gian tinh tế, như đã thấm vào vào tác giả để từ đó truyền lan đến người đọc. Khát vọng không gian với Trần Hồng Giang khởi nguồn từ sự trở về ký ức. Đó là những kỷ niệm thuở ấu thơ với những ngộ nghĩnh cho chuồn chuồn cắn rốn tập bơi, những trò chơi dân gian và trò chơi con trẻ: “Thuở ấy mây trôi ngang tán lá bàng đầu ngõ/ Thẹn thùng bông râm bụt đỏ/ Em vờ cài tóc cô dâu”. Và kỷ niệm thời học trò: “Mực tím nhòe lem trang vở/ Anh ngây ngô bài thơ dang dở” (Mây xưa).
Anh nhớ về đêm trên đồng ải tháng Mười với những cảnh vật, nỗi niềm ký thác vào tâm thức: “Tháng Mười hanh hao le se gió bấc/ Trăng đồng chiêm nhợt nhạt uốn lưỡi liềm/ Sương đậu xuống trong lòng tay sóng sánh/ Thấp thoáng ánh đèn nhem nhễ cùng đêm”. (Đêm trên đồng ải). Phải nói rằng, Trần Hồng Giang rất sáng tạo khi tả tiết thu “hanh hao le se gió bấc” hay tả về “ánh đèn nhem nhễ cùng đêm”. Trong “Chuồn chuồn phố” có nhiều câu thơ tả cảnh quê đồng bằng rất tinh tế và gợi: “Bù nhìn dấp dim mơ ngủ/ Cánh diều bay ngang chiều thu”; “Vạt nắng vàng mơ vườn cũ/ Cỏ cây ngả sắc thở dài”... (Một góc thu). Hay: “Con mèo mướp duỗi mình trong sân nắng/ Đêm lập lòe đom đóm rộn bờ ao...” (Tháng Tư). Và đây: “Chài quăng tung bọt nước/ Xập xòa trắng lóa mặt sông”, “Con tôm cờ búng càng tí tách/ Nhảy loi choi, loi choi...” (Gia đình thuyền chài).
Thơ vốn hay ở sự bình dị mà truyền tải đời sống hiện thực, thổi hồn cho sự bình dị ấy. Những hình ảnh thơ Trần Hồng Giang trong “Chuồn chuồn phố” không cầu kỳ, nhưng khi đọc vẫn có thể nhớ lâu. Không nhớ sao được khi bắt gặp hình ảnh “Sẻ nâu ngơ ngác sân chùa/ Khật khừ gió bấc lưa thưa mưa phùn/ Tụm vòng cay mắt khói hun/ Vài con cúi cháy đượm nùn rơm khô” (Mùa Đông). Phải là người sống ở thôn quê đồng bằng Bắc Bộ mới cảm thấm đầy đủ hồn vía của những câu thơ như trên. Cả khi viết về không gian ngôi chùa quê, Trần Hồng Giang cũng có câu thơ rất gợi: “Bồ đề lặng yên ngâm ngợi/ Vườn chùa tư lự chênh chao/ Lấp loáng nắng chiều loang vỡ/ Ni cô nhặt lá bên rào” (Vườn chùa). Đọc bài thơ này, tôi lại nhớ đến bài thơ “Quê nội” của nhà thơ xứ Nghệ Lê Thái Sơn, có câu “Những mùa hoa đại trắng/ Tiếng mõ chừng cũng thơm”, tự nhiên thấy không gian rộng ra và thanh tịnh xiết bao!
Đặt tên cho tập thơ là “Chuồn chuồn phố”, Trần Hồng Giang vừa muốn níu kéo về kỷ niệm, về không gian ký ức đồng bằng, song anh vừa muốn nói đến sự biến đổi, sự phôi pha trong tâm hồn thuần nông từ bao đời khi tiếp nhận những phương chiều văn hóa thị thành, kiểu như Nguyễn Bính: “Hôm qua em đi tỉnh về/ Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều”. Tuy nhiên, ở thơ Trần Hồng Giang là những thân phận người quê ra phố kiếm sống: “Bán lẻ từng giọt mồ hôi/ Sẻn so cả những nét cười héo hon...”, “Lang thang như một con diều/ Tấm thân quăng quật bao chiều bão giông/ Thoảng buồn rồi lại như không/ Nhà quê vẫn cứ một lòng nhà quê” (Gặp người quê ở phố). Khi nói về những người quê “đong đưa mây gió thị thành”, tác giả không giấu giếm: “Quê xa giờ đã xa rồi/ Chỉ thấy hời hợt mắt môi quanh mình/ Díu dan một mớ tội tình/ Thương thân trót dại rập rình lanh chanh”. (Chuồn chuồn phố). Những bài thơ “nhuốm sắc thị thành” của Trần Hồng Giang đều đượm buồn, như “những vòng tròn quẩn quanh”. Đó là những trăn trở của tác giả, khi làng quê bây giờ không còn là làng quê xưa.
Trong “Chuồn chuồn phố”, Trần Hồng Giang đã có những câu lục bát mà tôi thích. Tuy nhiên trong tập, Giang còn viết nhiều câu mòn sáo, chưa thật chú trọng lao động thơ. Chẳng hạn câu “Đài Nghiên mực chợt dư thừa/ Vẩy lên không những vần thơ ân tình” (Ta về Hà Nội mùa Đông); “Có hay mùa xuân đã đến!/ Bất chợt lòng người quên đi bão giông” (Lặng lẽ mùa Xuân). Hoặc anh lên gân: “Đắng đót lời ca nỗi đau nhân loại/ Phiêu du bước nhảy thiên thần/ Giai cấp trở thành huyễn hoặc/ Mờ bụi hồng trần...” (Nhớ M.J). Và “Sài Gòn nắng!/ Sài Gòn mưa!/ Dọc đường gió bụi/ Ta qua tình cờ!...” (Sài Gòn ngày trở lại) v.v...
Cảm thông với Trần Hồng Giang bởi anh chưa có nhiều điều kiện thực tế, anh viết theo tâm tưởng và nhận biết qua “thực tại ảo”, chủ yếu trên các phương tiện nghe nhìn và internet. Song quý nhất ở anh là sự đa cảm, cái nhìn tinh tế, chân thành, là những gì lắng trong trái tim, chắt lọc từ tâm khảm anh để viết nên những vần thơ gan ruột truyền gửi đến bạn đọc. Tin rằng với anh, thơ đem đến sự ấm áp, chứ không phải “Chợt nghe hồn lạnh tái tê/ Chim di trú bao giờ về chốn xưa”...
Nguyễn Đình Xuân
(Nguồn: Báo Quân Đội Nhân Dân)