“Hương thầm” được nhạc sĩ Vũ Hoàng phổ nhạc năm 1984, sau khi bài thơ được giải nhì cuộc thi thơ của Tuần báo Văn nghệ năm 1969. Những thi phẩm được phổ nhạc, phần nhiều không mấy ai nhớ đến tác giả ca từ, nhưng với “Hương thầm”, người ta gắn liền nó với nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn. Hoa bưởi (chứ chẳng phải hoa hồng) từ ấy cũng đâm thoảng hương vị tình yêu, thay vì chỉ mang đi ướp chè và mía nướng. (Di Li)
Nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn (áo tím)
và các bạn văn tại 19 Hàng Buồm, HN. Ảnh: Lãng Ma (Lucbat.com)
Lần ấy tôi dự Hội nghị quốc tế quảng bá văn học Việt Nam được tổ chức tại Tuần Châu. Đêm thơ quốc tế. Một người phụ nữ ăn vận lịch lãm ở hàng ghế trên quay xuống bảo rằng tôi có thể dịch giúp bài thơ này sang tiếng Anh và lên sân khấu diễn phần dịch khi bà đã đọc xong khúc thơ gốc, nhân tiện thì dịch cả lời giới thiệu rằng đó là bài thơ tình đầu tay của bà. Chẳng có lý do gì để từ chối khi lời đề nghị ấy là từ tác giả của “Hương thầm” và cả “Làm anh” mà tôi thuộc lòng từ thuở chưa cắp sách đến trường. Tôi dịch rất nhanh những câu thơ da diết, hờn dỗi và đầy kiêu hãnh của một cô gái 20 tuổi.
Nếu anh đi với người yêu
Chỉ mong anh nhớ một điều, nhỏ thôi:
Con đường ta đã dạo chơi
Xin đừng đi với một người khác em
(Trích đoạn bài thơ “Con đường”)
Tôi dịch thành:
If you go for a walk with your darling,
I wish you’d remember a small thing:
The road we walked on
Please, ever be there with a girl, not me
Lúc trở về chỗ, rồi cho đến tận ngày hôm sau, nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn vẫn nhiệt tình cảm ơn đến mức tôi phát ngại. Sau này, khi đã trở nên thân thiết, thấy nhà thơ nhiều lần như thế, cứ thích “trả ơn” những người khác vì một sự rất nhỏ. Chỉ thoáng thế ấy, tôi đã đoán biết ngoài sự trước sau và lịch lãm của một người có gốc Hà Nội từ nhiều đời, còn là định mệnh sinh ra một con người với tính cách dễ bị tổn thương. Phàm là người luôn cảm động vì tấm thịnh tình của người khác (dù chuyện nhỏ xíu), ắt nhiều phần đề cao tình cảm và tình nghĩa. Thế rồi khi đã hết lòng với đời, hết tình với người, mà sự đáp lại chẳng như mong muốn, hẳn sinh tủi lòng vì nỗi bạc bẽo của người đời. Mà Phật pháp thì dạy: Con người ta sinh ra vốn dĩ đã vô ơn.
Lần đầu tiên đến thăm nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn, tôi nhìn thấy trong phòng khách tấm ảnh thờ nhà thơ Thi Nhị, người chồng quá cố của bà. Tác giả của những vần thơ “Cửa sổ hai nhà cuối phố, không hiểu vì sao không khép bao giờ” đã từng trả lời trong một bài phỏng vấn rằng “Ông xã, có thể nói, là một phần mơ mộng tuổi trẻ của tôi. Nhưng chúng tôi chỉ cùng sống được 12 năm thì anh bệnh nặng và qua đời, khi tôi mới ngoài 30. Sau khi nhà tôi mất, cho đến bây giờ là hơn 30 năm, tôi đã... thử yêu và không ngừng thất vọng.” Nhiều lần nhà thơ vẫn bảo những cô gái trẻ chưa chịu lấy chồng rằng tìm đâu ra một người hoàn hảo bây giờ, mà bản thân mình đâu có phải người hoàn hảo, tương đối thôi… Ấy là nói thế, nhưng người đã thất vọng tới hơn 30 năm tới giờ cũng vẫn chưa tìm thấy đâu một người lòng thực sự ngưỡng mộ mà lại đền đáp trọn vẹn tấm chân tình cuả nhà thơ. Nhiều phần tôi nghĩ, người sáng tạo mà chỉ mưu cầu một sự “tương đối” là khó lắm, bởi tính duy mỹ và vị cảm là điều không thể thiếu đối với những người làm nghệ thuật luôn muốn vươn đến chân-thiện-mỹ và cả đời đi tìm sự hoàn hảo.
Phòng khách của nhà thơ trong căn hộ nằm trên khu chung cư đường Lê Văn Lương có vẻ như qúa rộng, có lẽ vì lớn quá so với nhân khẩu hai người một mẹ một con. Nhưng lúc ấy tôi không dám nhận xét thế, chỉ đến khi bà chuyển nhà sang khu mới trên đường Bưởi, một căn hộ chung cư hạng sang với hành lang bóng lộn như khách sạn năm sao, nội thất gỗ tinh xảo và không gian ấm áp, tôi mới nức nở khen sự lựa chọn này thật vô cùng phù hợp. Ngôi nhà mới xinh xắn hơn, nhỏ nhắn hơn và vì thế cũng đầm ấm hơn. Không hiểu sao, tôi luôn bị thu hút bởi những người sống lặng lẽ, đặc biệt là khi họ lại là nghệ sĩ. Tôi cảm thấy từng đồ đạc, từng vật dụng nhỏ của nữ nhà thơ, từ chiếc giường một gối, chiếc máy tính để bàn hàng ngày làm việc, những cuốn sách trên giá, lọ hoa tươi và cả bát đĩa trong chạn đều toát lên chút gì đó giản dị mà cô đơn, một nỗi cô đơn kiêu hãnh của người mang những câu thơ tình đến sổ tay từng cặp đôi lứa đang yêu. Tuy nhiên, chỉ duy nhất có một lần nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn nói rằng “Phải bao giờ đến tuổi cô cháu mới cảm được nỗi cô đơn khi phải sống một mình”. Còn phần nhiều, người bạn nhà thơ lớn tuổi của tôi thường chỉ gọi điện rủ đi ăn món gì đó ngon lành, đi du lịch xa hay dancing sáng chủ nhật.
Riêng điều này mới là cái sự khiến tôi kinh ngạc về vẻ thanh xuân và sức sống của một người phụ nữ dường không có tuổi. Một tuần có 7 ngày sống thì phần nhiều thời gian nhà thơ dành cho tennis, bơi lội, dancing và đôi khi cả massage thẩm mỹ. Tất cả sự di chuyển đến các CLB thể thao đều vù vù bằng xe gắn máy. Bà nhảy tango rất cừ, và cả Viennese Valse (Valse xoay) là điệu mà tôi chưa bao giờ dám thử vì mắc bệnh chóng mặt. Hễ đi đâu thì bà hay đòi đi bộ, bảo gần như thế có chi phải cần leo lên xe, trong khi tôi uể oải đòi gọi taxi. Và khi được hỏi về một căn bệnh kinh niên mãn tính nào đó thì bà nghĩ một lúc rồi bảo “Có, cách đây một tháng cô cũng bị… đau lưng mất cả buổi tối, rồi từ bữa ấy đến giờ chưa thấy bị lại nữa”. Rõ là nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn đã khiến tôi giảm bớt nỗi ám ảnh kinh hãi của “những bài tập dưỡng sinh và canh thập đậu bổ dưỡng” cũng như lạc quan hơn về một tương lai mà bất cứ người phụ nữ nào cũng phải chạm tới.
Hồi đầu không biết, tôi hay mời nhà thơ nữ đi ăn cơm chay, nghĩ chắc bà phải thích lắm, sau thấy khách mời giãy nảy lên “Ấy không, không, bà già này chỉ thích hải sản thôi, không ăn cơm chay”. Phòng khách xinh xắn của bà cũng là nơi tiếp nhiều bạn bè thân như nhà thơ Nguyễn Thị Hồng Ngát, Bảo Chân, nhà văn Trần Thị Trường… Những người trẻ như tôi cũng yêu quý “cô Nhàn”, yêu quý con người luôn lạc quan và hài hước. Nhiều người đàn ông quý mến, trân trọng nhà thơ, có người ở rất xa cũng hay gọi điện thăm hỏi. Bà hài hước bảo lúc nhấc máy nghe ông ấy “A nô” tức mình lắm, mà chỉnh mãi không được. Sau người bạn kia sợ quá, cứ mỗi lần gọi cho nữ thi sĩ, thay vì bảo “Tôi sắp ra Hà Nội” thì lại ấp úng “Tôi sắp ra… Thủ đô”, để tránh vần N.
Người ham thích thể thao, trong lòng ắt vui tươi và thèm được hoạt động. Phan Thị Thanh Nhàn cũng là người thích du lịch. Chỉ cần có một người đồng cảm, chung sở thích và một điểm đến, vậy là bà sẵn sàng lên đường, với nhiệt huyết và nụ cười khó lòng nguội tắt. Năm nào bà cũng tiêu tốn vô khối tiền vào những chuyến đi cả trong và ngoài nước. Nhiều lần tôi thở dài “Khi nào cháu bằng tuổi cô, chắc chẳng được một phần thế này. Giờ đã nhiều phần theo không kịp…”. Điều ấy không phải tôi khen nịnh, mà rõ rằng tôi không đủ sức theo đuổi một môn thể thao hạng nặng như tennis, không đủ kiên trì tập luyện hàng tuần như bà đã làm từ mấy chục năm nay, và vài thập niên sau, cũng đủ hình dung mình không thể giữ nổi vóc dáng thon gọn, thanh thoát như bậc tiền bối. Có lần, “phê bình” sự mệt mỏi ngay khi tuổi còn đang trẻ của tôi, Phan Thị Thanh Nhàn bảo “Ngày xưa hồi yêu nhau, lúc ấy là năm 67, đang còn chiến tranh, cô với chồng chưa cuới còn đèo nhau bằng xe đạp về quê anh ở Thái Bình, cũng ngót 200 cây. Đi suốt một đêm, vừa đi vừa ríu rít trò chuyện và cô đã viết bài thơ Đêm Thái Bình sau chuyến đi đầy kỷ niệm ấy”
Nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn càng ngày càng gọn gàng, nhanh nhẹn, và sự trẻ trung đến từ sức sống đang tỏa ra hàng ngày chứ không phải bằng cách người ta đo đếm những nếp nhăn trên gương mặt người, cho dù bà có lần đã thảng thốt viết một cách vừa hài hước vừa cay đắng thế này:
Như chớp mắt như chiêm bao
Vừa thơ ngây đã chớm vào già nua
Mắt đeo kính, tóc rụng thưa
Gặp người yêu cũ muốn vờ rằng quên
Và cả:
Ôi người yêu thuở hoa niên
Đâu còn cái tuổi mắt nhìn toàn hoa
Trẻ trung thời ấy đã xa
Cuộc đời thực với dưa cà cần lao
Nhiều bài thơ tự trào, âu cũng là càng khẳng định lòng người vẫn sôi nổi và tim người vẫn đa đoan. “Có đôi lúc buồn, tôi đã định tự tử” vì “Sống làm chi khi bè bạn bon chen”, “Sống làm chi khi người yêu thành người lạ”, “Sống làm chi khi mọi tượng thần đều sụp đổ. Người ta tin yêu lại hóa tầm thường” nhưng cuối cùng thì “Vậy mà tôi vẫn sống nhơn nhơn… Vẫn hy vọng kiếm được một ông chồng đáng mến… Và tôi hiểu ra trong thăm thẳm niềm đau. Tôi vẫn còn yêu đời quá.” (Trích “Yêu đời”). Những khoảnh khắc cô đơn khi đối diện với nỗi ám ảnh vừa trờ đến của thời gian, đối diện với niềm tin sụp đổ trong hành trình đi tìm chân thiện mỹ vẫn không áp đảo được trái tim yêu đời đầy kiêu hãnh của người đàn bà quên tuổi.
Ngoài những hoạt động thể thao, giải trí thì đến giờ bà vẫn viết đều đặn, tần suất bài xuất hiện trên các báo không phải là ít. Mới hồi năm ngoái bà cũng vừa cho ra mắt tập chân dung văn học “Sự cực đoan đáng yêu” mà ngoài những giai thoại văn học thú vị thì còn là một nguồn tư liệu quý cho những người khảo cứu văn học sử sau này. Tập sách gồm nhiều mẩu chuyện về những tên tuổi lớn đương thời như Nguyễn Tuân, Nguyễn Đình Thi, Tế Hanh, Tô Hoài, Lâm Thị Mỹ Dạ, Dương Thị Xuân Quý, Đoàn Thị Lam Luyến, Xuân Quỳnh… Trong đó, cá tính và đời sống của người viết cũng hiện lên rất rõ. Nhiều đoạn có nhắc đến người chồng thân thương của nhà thơ, khi ông nói với người vợ trẻ rằng “Em trẻ con lắm. Cái thằng xách nước cho em tắm, lau nhà giặt quần áo cho em thì em không xúc động, lại xúc động thằng cha nhăng nhít tặng bông hoa cứt lợn hả?”. Riêng điều này, nỗi tiếc nuối cứ day dứt mãi không nguôi trong thơ Phan Thị Thanh Nhàn: “Một người mang đi hết. Bao nhiêu là thông minh. Chẳng còn ai hóm hỉnh. Ai cũng đều nhạt tênh. Tấm ván nằm chông chênh. Sao rơi như nước mắt. Lòng em nghiêng về anh. Để tháng ngày lặng ngắt”. Nỗi thất vọng hơn 30 năm vì bao nhiêu khao khát ở đời đã bị “một người mang đi hết”. Nhưng tôi cũng tìm thấy trong số rất nhiều bài thơ tình của bà có những câu thơ viết ở giai đoạn sau này, khi chồng bà đã mất một thời gian:
Sáng sớm anh dậy trước
Lẹ làng như con ong
Thổi cơm rồi đun nước
Cho em nằm ngủ thêm
Anh đong gạo mua dầu
Việc nặng giành làm cả
Mỗi chiều đi làm về
Thương dáng anh tất tả
Người phụ nữ, khi có bàn tay đàn ông “xách nước” hay “đun nước” âu đều là hạnh phúc ở đời. Tôi băn khoăn lắm điều này và đã hỏi tác giả, liệu bà có khắt khe quá không với những gì đã qua, và nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn “thú nhận” rằng trong quãng thời gian “thử yêu”, cũng có một mối tình đẹp mà bà không muốn thổ lộ, vì ...cuộc đời thường "ko hiểu vì sao”...
Nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn tự nhận mình là người không bon chen, điều ấy thoáng qua tôi biết, cho dù bà đã lên đến đỉnh cao của thi ca khi người người, nhà nhà đều thuộc lòng chí ít một đoạn dài trong “Hương thầm”. Tâm trong sáng, không cạnh tranh, không hận thù, những câu thơ của bà cũng trong sáng, không hiểu sao tôi cứ cảm thấy thế, trong sáng ngay cả trong lời thơ buồn với nỗi đời viết khi tuổi đã không còn trẻ: “Lòng không hề xúc động, dẫu mùa thu heo may. Lòng dửng dưng chai sạn, dẫu nắng hè đắm say. Ăn qua loa xong bữa. Đi làm cho gặp ngày. Chẳng còn thân ai nữa. Có chút gì đắng cay” (Trích “Mùa xuân”).
Nhiều bận đi đâu, gặp ai, tôi cũng chìa tay hớn hở “Đây là tác giả của Hương thầm”. Nhà thơ nhăn mặt, hàm ý rằng nhỡ đâu người ta chẳng biết Hương thầm là gì, mình giới thiệu thế người ta ngơ ngác rồi không khí lại nặng nề. Nhưng tôi chưa lần nào bị “hẫng” như thế, vì từ anh cán bộ trẻ cho đến cậu nhân viên khiếm thị đều à lên đọc một mạch vài câu. “Hương thầm” được nhạc sĩ Vũ Hoàng phổ nhạc năm 1984, sau khi bài thơ được giải nhì cuộc thi thơ của Tuần báo Văn nghệ năm 1969. Những thi phẩm được phổ nhạc, phần nhiều không mấy ai nhớ đến tác giả ca từ, nhưng với “Hương thầm”, người ta gắn liền nó với nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn. Hoa bưởi (chứ chẳng phải hoa hồng) từ ấy cũng đâm thoảng hương vị tình yêu, thay vì chỉ mang đi ướp chè và mía nướng. Nhà thơ sinh ra ở Tứ Liên, nơi đất đai rộng rãi để trồng hoa, để ươm gió trời và ngoài sân nhà thì có cây hoa bưởi. Yêu hoa bưởi, thương em trai, bà viết bài thơ ấy tặng em, để rồi sau đó người em ra trận và vĩnh viễn không trở về.
Giờ nhiều cô gái bảo “Yêu thì sáp dô chứ làm chi phải khổ mà ngồi im không biết nói năng chi, rồi anh không dám xin cô gái chẳng dám trao”. Nhiều nhà thơ nữ đương đại cũng phát biểu đại ý rằng: Nếu tôi yêu thì tôi sẽ đến gặp người tôi yêu và tỏ tình chứ nhất định không chịu “giấu một chùm hoa trong chiếc khăn tay, cô gái ngập ngừng sang nhà hàng xóm”, vì thế thơ của tôi cũng sẽ khác. Lời tỏ tình có thể khác nhau ở cách biểu hiện, nhưng tình yêu và thi ca thì bất tử. Người ta có thể “sáp dô” ở thế kỷ 21 nhưng vẫn không thôi chậm rãi những câu thơ “Hương thầm”. Hương thầm, tôi thấy giống như bức ảnh “Nụ hôn” chụp trên Quảng trường Thời đại (Mỹ) vào ngày quân đồng minh chiến thắng phát xít Nhật rồi sau đó được đăng tải trên tạp chí Life. Trong ảnh, anh lính thủy vô danh đã ôm chầm lấy cô y tá mà hôn. Người ta vẫn hôn nhau hàng giờ, hàng ngày, hôn mọi nơi, mọi lúc, mọi thời và mọi kiểu cách khác nhau. Nhưng “Nụ hôn” của nhiếp ảnh gia Alfred Eisenstaedt đã trở thành bất tử. “Hương thầm” cũng đã ghi dấu một khoảnh khắc lịch sử như thế. Đã từng có biết bao người lính và cô gái chia tay người ra trận như trong bài thơ? Chắc chỉ còn biết hỏi hương bưởi mà thôi. Và đã gần nửa thế kỷ trôi qua, hương bưởi vẫn ngan ngát thoảng đưa bất cứ khi nào lời thơ được cất lên.
Mấy bữa nay, tôi chưa thăm lại nhà mới của nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn để ngó xem cây bưởi con trên ban công nhà cũ đã được chuyển đến nơi ở mới hay chưa?
DI LI
(Hà Nội)