Trường cấp 3 Sơn Tây – cái tên giản dị gieo vào lòng bao thế hệ thầy trò đã từng dạy và học nơi đây. Hơn 50 tuổi trường, tình thầy trò, bè bạn qua thời gian lại càng thêm sâu đậm. Những người theo nghiệp viết hẳn ai cũng biết đến những cái tên Thế Mạc, Trần Quốc Toàn, Đỗ Doãn Quát, Hà Nguyên Huyến… Họ là những nhà văn Việt Nam đã từng một thời gắn bó với ngôi trường này, dù đã xa trường rất lâu, có người đã dời xa cõi trần nhưng nỗi niềm Sơn Tây vẫn mang nặng trong lòng...
1. Thế Mạc – người thơ phong vận như thơ ấy
Nhắc đến ông, người gọi nhà thơ Thế Mạc, người quen gọi tên khai sinh Kiều Thể, hay giản dị hơn là “thầy Thể”, (bút danh Thế Mạc xuất phát từ câu thơ cổ: “Thế sự thăng trầm quân mạc vấn”). 30 năm đứng trên bục giảng, hàng vạn học sinh qua bàn tay dìu dắt của thầy, có người đã thành danh, người còn lận đận…đều nhớ về thầy bằng tình cảm trân trọng đặc biệt. Khi chúng tôi vào học lớp 10 (chuyên văn) cũng là năm thầy ra tập thơ riêng đầu tiên sau mấy chục năm ròng lặng lẽ viết và in rải rác trên các báo, tập “Hồ” (1994) được giải thưởng của Liên hiệp hội VHNT Việt
… Ngôi nhà cuối con phố Đốc Ngữ, nơi một thầy giáo đã nghỉ hưu, một nhà thơ sống cuộc đời âm thầm dường như chỉ rộn ràng lên đôi chút những khi có bạn bè văn chương ghé lại (trong số đó đa phần là bạn vong niên), nhấp chén trà mạn, đàm luận về văn chương, học thuật hay chuyện thế sự. Thế Mạc không ưa sự ồn ào trong đời và cả trong thơ, ông chọn cho mình khoảng lặng cần thiết để lắng nghe, chắt lọc và viết. Trở thành hội viên HNV VN ở tuổi 70 (năm 2004), có người cho như thế là muộn đối với một người sáng tác có ít nhiều thành tựu (Giải thưởng báo Văn nghệ, báo Độc lập…các giải thưởng cho văn học thiếu nhi. Huy chương vì sự nghiệp VHNT). Nhưng với thi nhân, sức sống bền vững của tác phẩm trong lòng người yêu thơ mới là điều quan trọng. Và hơn thế, sự lan tỏa của tình yêu văn chương, yêu cái Đẹp được truyền nối như mạch nguồn sâu kín mà mãnh liệt chính là giá trị cao quý nhất. Thế Mạc có được tất cả những điều đó, đọc thơ ông thì thấy, đúng là “người thơ phong vận như thơ ấy” (Hàn Mặc Tử).
Mỗi năm chỉ có một ngày 31/12 để đánh dấu sự kết thúc năm cũ và mở ra một năm mới. Ngày này năm nay, đã tròn một năm ngày thầy giáo – nhà thơ Thế Mạc rời xa cõi thế…
2. Phan Quế - nhà thơ, nhà văn công an
Nguyên là học sinh khóa 2, quê Hữu Bằng, Thạch Thất. Tốt nghiệp cấp 3 xin đi học ngành sư phạm. Làm thầy mà nợ văn chương đeo đẳng nên đã chuyển sang làm biên tập tại NXB Công an và Văn hoá Văn nghệ Công an. Tính cách hiền lành, khiêm tốn, tưởng dễ chìm lẫn vào đám đông nhưng Phan Quế có khối lượng tác phẩm cũng như “thành tích văn học” rất đáng nể: Trái tim lang thang (tập thơ), Tên đất tên làng (trường ca), Cổ kính và phóng túng (trường ca), Bùa mê (tiểu thuyết), Đời hoang dã (tiểu thuyết)… Kết nạp vào Hội nhà văn Việt
3. Dương Duy Ngữ - văn chương là nghiệp
Học khóa 3 (1961 - 1964), tốt nghiệp lớp 10, Dương Duy Ngữ chọn cho mình con đường binh nghiệp, trọn đời gắn với quân đội, công tác ở Nhà Xuất bản Quân đội Nhân dân cho đến khi về hưu. Vốn xuất thân từ trấn Quốc Oai, vùng đất đã sản sinh ra cái 'văn hóa dạy làm người', đại tá nhà văn Dương Duy Ngữ là một trong những người cầm bút trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ còn sung sức đến ngày hôm nay. Ông là tác giả giành giải thưởng cuộc thi 'Cây bút vàng' cùng với những nhà văn như Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Nguyễn Quang Sáng…Cũng cần phải kể đến Giải thưởng văn chương Bộ quốc phòng, Giải thưởng văn chương hội nhà văn Việt Nam cho những cuốn tập truyện “Người hùng”, “Rước chữ”, “Lộc người”…Ngày về thăm lại trường cũ, ít người biết những dòng tri ân đầy xúc động gửi tới thầy cô và lời chúc cho thế hệ học trò tương lai của một nhà văn Việt Nam lại khiêm nhường đến thế: “Em xin trân trọng gửi tới thầy cô lời chúc sức khỏe. Tôi xin chân thành gửi tới các em học sinh lời chúc học giỏi và thành công…”
4. Trần Quốc Toàn – mãi mãi một tình yêu
Nếu người xưa tổng kết những cuộc gặp gỡ của đời người bằng câu “hữu duyên thiên lí năng tương ngộ” thì với nhà thơ Trần Quốc Toàn ý nghĩa của nó còn sâu xa hơn cả về không gian và thời gian. Khi đã có sự thân tình nhất định, tôi vẫn thầm cảm ơn văn chương đã mang đến cho mình một ông thầy. Gọi ông là thầy, bởi cô giáo chủ nhiệm dạy văn của tôi là một trong những học trò của thầy Toàn từ cái thời trường Sơn Tây mới thành lập chưa đầy dăm năm. Thuở ban đầu ấy, Trần Quốc Toàn là một giáo viên mới ra trường, còn khá đẹp trai và phong độ (qua hồi ức của những cô học trò nay đã ngoại ngũ tuần), dạy học, làm thơ tình và yêu đương ở xứ sở mây nắng phóng khoáng này đều lừng lẫy tiếng tăm. Năm 1973 đã có giải thưởng báo Văn nghệ, khởi đầu cho hàng loạt thành công trong nghề cầm bút khi không còn dạy học nữa. Từ trường Sơn Tây, thầy giáo trẻ đi một mạch về cuối đất nước, vùng đồng bằng sông Cửu Long. Rồi trở lên Sài Gòn làm báo. Viết về giáo dục, viết cho thiếu nhi, viết về đời làm thầy của mình…để không có cảm giác rời xa bục giảng.
Một học trò cũ nhớ lại, ngày đó thầy Toàn lên lớp “phiêu” lắm, lúc nào cũng đầy chất trí tuệ mà vẫn lai láng tình đời. Có những giờ thầy bận việc riêng (mà cái thị xã bé nhỏ lại tập trung bao nhiêu người đẹp có lúc nào để người ta hết bận bịu), thầy Kiều Thể lên lớp thay. Hai ông thầy có hai cách dạy khác nhau nhưng đều có lửa trong từng bài giảng. Nhớ một tình tiết khác để thấy ông thầy này có máu tài tử: những lần rạp Sơn Tây chiếu phim, người thuyết minh bận, thầy Toàn thế vào chỗ ô tường nhỏ phía trên gần nóc rạp, chỉ cần nhìn màn ảnh mà đọc lời thoại khớp đến từng cử động mắt môi của nhân vật. Những ngày mùa hè năm 1971, thị xã chứa trong lòng mình dòng nước lũ đổ về từ thượng nguồn sông Đà để tránh cho Hà Nội ngập lụt, toàn bộ giáo viên (đã nghỉ hè nhưng chưa kịp về quê) phải sơ tán lên tầng 2 của trường cấp 2 Phùng Hưng, thầy Toàn chống bè chuối ra chợ Nghệ mua đồ ăn về “cấp cứu” cho mấy gia đình quanh đó và bỗng thành chỗ dựa (tinh thần cũng như thể lực) cho mấy cô giáo trẻ…
Ngày trường Sơn Tây sinh nhật tuổi 50, nhà thơ Trần Quốc Toàn muốn trở về nơi cất giữ những kỉ niệm bằng cách riêng, ông gửi gắm vào tôi ý tưởng tìm lại năm tháng của mình qua quan sát và ghi nhận của một cô (cựu) học trò thế hệ sau, như một cách sống thêm một lần tuổi trẻ của mình. Ông còn nhắn tôi hãy cố tìm cách ghi lại hình ảnh người đồng nghiệp cũ, thầy Kiều Thể, có lẽ bởi một linh cảm nào đó. Nhưng dịp đó thầy Thể đã quá yếu, không thể đến dự lễ kỉ niệm mà tôi không tiện đến nhà riêng. Hơn một tháng sau, nghe giọng thầy Toàn thảng thốt trong điện thoại: “Thầy Thể mất rồi, em ạ. Em về Sơn Tây thì nhớ thắp giùm tôi một nén hương…”
Lớp hậu thế chúng tôi chỉ còn trông vào sự may mắn được hiểu phần nào những ngày tháng các thầy đã từng sống qua lời tri ân của các học trò cũ giờ đây là thầy cô, là bậc đàn anh đàn chị trong nghề. Nhưng nói về lòng biết ơn thì lời nào cũng ngắn. Cô Nga, cô Nguyệt (hiện vẫn đang dạy ở trường) sau nhiều phút im lặng, chỉ biết nói với tôi rằng: “Nói về thầy mình thì bao nhiêu cũng không đủ. Chỉ khi làm thầy mới hiểu được lòng thầy.”
Nghĩa tình gửi lại với “nắng Sơn Tây, mây Ba Vì” sâu đậm đến thế, hết một đời này có lẽ nhà thơ cũng chưa thể đi hết một tình yêu.
5. Đỗ Doãn Quát – quyết tử với văn chương
Hội viên Hội nhà văn Việt
Trong buổi chiều chớm đông, nhà văn của những con số lẻ - tôi vẫn gọi ông như thế - bộc bạch một điều ít người biết: ba người con đã thành danh trong báo giới (Đỗ Doãn Hoàng, Đỗ Doãn Phương và Đỗ Diễm Huyền) theo nghiệp chữ nghĩa là do ông “dụ dỗ” (chứ không phải là dạy dỗ). Vốn dĩ học rất khá các môn tự nhiên, luôn đứng đầu danh sách đi thi học sinh giỏi toán, nhưng khi thi vào cấp 3 Sơn Tây đều được ông bố thuyết phục, phân tích điểm mạnh của nghiệp văn, điểm yếu của chính các con nếu theo nghiệp toán. Cuối cùng thì các cô cậu lần lượt theo nhau vào lớp chuyên văn. Và cũng thật may mắn, người đỡ đầu cho những trang viết còn non dại của họ chính là thầy giáo – nhà thơ Thế Mạc.
Văn chương cũng là một thứ gia truyền, phải có người kế nghiệp mình, làm tiếp những điều đời mình còn dang dở. Mình chưa thành công thì đến đời con, đời cháu chắt hẳn phải có. Quan trọng là biết truyền cho chúng nó niềm say mê. Tôi hướng các con theo nghiệp chữ cũng vì muốn “quyết tử” với văn chương, dù biết theo văn có thể sẽ lâm vào cảnh “một bầy đói rách con như bố…”. Nhà văn Đỗ Doãn Quát nói, rồi lại ha hả cười, giọng cười của người đã biết bình thản trước những thăng trầm, được mất ở đời người, đời văn.
6. Hà Nguyên Huyến – người lạ ở xứ Đoài
Gặp nhà văn Hà Nguyên Huyến không khó, cái khó là nắm bắt được lịch di chuyển giữa trung tâm với ngoại thành Hà Nội cách nhau tới 50km. Nơi nào cũng cần ông, cần với cái nghĩa vật chất nhất chứ không chỉ thuần tuý tinh thần. Ở trụ sở báo Văn nghệ luôn bề bộn bản thảo (qua đường bưu điện) cần phải đọc mỗi ngày. Ở ngôi nhà cổ làng giữa làng Đường Lâm (Sơn Tây) cần có bàn tay ông chăm chút những chum tương theo đúng công thức gia truyền.
Đường đến văn chương của Hà Nguyên Huyến khá vòng vèo, có những khúc quanh, cũng có cả sự trồi sụt, điều tiếng không tránh khỏi do nhiều yếu tố khách quan. Năm 1980, tốt nghiệp khoa Triết Đại học Tổng hợp, xin về làm nhân viên phòng Văn hoá – thông tin huyện Ba Vì (khi đó xã Đường Lâm thuộc Ba Vì) được một tháng thì bỏ đi làm…thợ mộc. Cứ tưởng “nhát đục chục bạc” đem lại cuộc sống sung túc cho gia đình, hoá ra cái nghề này ráo mồ hôi là hết tiền. Rời tay chàng, tay đục lại ngồi viết văn. Năm 1987 có truyện ngắn (“Con rộc kiêng”) in trên báo Người Hà Nội, không ít người cho rằng ông này “có vấn đề”, ăn không đủ còn đua đòi làm nhà văn. Những năm 1990 kiếm tiền quá khó khăn, Hà Nguyên Huyến quyết định về nhà mở xưởng làm tương (bí quyết được bà cụ thân sinh truyền tai trước phút lâm chung, mong muốn cho con một nghề đỡ vất vả hơn làm thợ mộc). Tương “Nguyên Hà” nổi tiếng cả một vùng, cuộc sống dễ chịu dần, tiền bán tương đủ mua thêm một căn nhà ở thị xã Hà Đông. Làm tương và viết văn, có lẽ đó là thời kì “thịnh” nhất của tác giả “Lá thuốc dấu”. Tương đắt hàng làm không kịp bán, văn chương gặt hái được nhiều thành công…
45 tuổi mới đi làm công chức, về “gác gôn” truyện ngắn báo Văn nghệ, vào HNV sau bao nhiêu thử thách, tưởng như người đàn ông xứ Đoài ấy đã hết sự lạ. Nhưng ít lâu sau bạn bè văn chương mới biết, ngôi nhà cổ (được dựng từ năm 1864) của ông được xếp hạng di tích, bỗng thành tụ điểm nhiều khách du lịch ghé thăm. Loại hình kinh doanh mới lại mở ra: làm dịch vụ cho khách có nhu cầu (nhưng phải đặt trước vì rất hạn chế số lượng), người phục vụ là bà con hàng xóm, những người đàn bà vừa buông quang gánh khỏi vai, vắt chéo khăn đội đầu chui vào bếp nấu bữa cơm quê thường nhật ăn với tương cà…
Viết chưa nhiều, nhưng dấu ấn riêng rất đậm nét. Bạo liệt mà đằm thắm. Chân thực mà phiêu linh. Ông khai thác những vỉa tầng văn hoá xứ Đoài từ cảm nhận tâm linh, không thể nhìn ngay được chiều sâu ẩn chứa trong đó ngay trên bề mặt vỏ chữ. Đọc văn Hà Nguyên Huyến không ai đọc một lần, người thiếu kiên nhẫn đến mấy cũng phải tập cho mình cái đức ấy. Thật lạ!
Sáu nhà văn Việt
Phạm Thị Phong Lan
(Nguồn: Website Hội Nhà Văn)
|
Trường mình giờ có 7 hay 8 hội viên rồi, Pham Phong Lan? |