Thứ ba, 09/06/2026,


Cõi tình lụng bụng mây rời rụng (13/01/2011) 

Nguyễn Văn Nhân với tập thơ “Nuốt trộng quạnh hiu”, như thể đã bỏ quên chuyện đời lên xuống, áo cơm rách mắt, bỏ mặc thiên tai mưa nắng mùa màng, cũng mặc kệ thế giới phẳng/lồi với dịch bệnh bạo loạn tâm thần.  Những vần điệu “Nuốt trộng quạnh hiu” không bước qua khỏi một tà váy “Em ngúng nguẩy thì ra em mới rợi”. Buồn vui tự đấy mà đi từ đó mà đến: Em ở đậu trái tim tôi mấy bữa/ Giờ ra đi bỏ lại một hoang tàn. Tình là ngọn nguồn và là cả một luân hồi xưa sau: Nhớ em/dạo phố luân hồi/ Vui chân/tìm lại/chỗ ngồi hôm qua. Thành ra, nẻo giác bến bờ của thi nhân dính dáng gì địa ngục thiên đường. “Mắc chi cõng Phật về chùa/Theo em xuống núi cợt đùa nhân gian” (Cõng Phật về chùa). Em trên vai, nụ cười trên môi, Nguyễn Văn Nhân tự tại như nhiên và khoắt khuya “nằm nghe giun dế huyên thiên tỏ tình”. Không Chúa không Phật nhưng nhà thơ chưa bao giờ là tử đệ của F.Nietzsche hay M. Heiderger, học đòi hiện sinh chủ nghĩa. Duy nhất chỉ có em là hiện tồn, một vĩ đại trông ngóng: “Em có về không, tôi khép cửa/ Ngoài kia nghe gió đã lên nhiều.” (Bão rớt).

“Nuốt trộng quạnh hiu”, vì vậy không hề là một hành trình tìm kiếm bản thể với tâm linh, cũng chẳng bận tâm phân biệt hiện hữu với tồn tại, mà là cuộc trò chuyện giữa tôi và em. Ô kìa nhân sinh có nghĩa gì đâu ngoài mấy đĩa đậu rang, cái miệng trệu trạo, hai con mắt, mười ngón chân, côm cốp cụng ly, ly dốc đáy cạn, những mặt người húng hắng ho  và tôi về: “Thôi về, khỉ đột đười ươi/ Tôi dìu tôi té xuống đời quạnh hiu”. Là tôi khỉ đột đười ươi, nên dù có tụng mười phương Phật Chúa cũng bằng vô dụng, vô dụng thôi:

 

Nam mô tứ phía đìu hiu mộng

Vẫn một mình ta ngó mặt ngày

Buồn tự tiền căn vô lượng kiếp

Rót mãi vào đêm chén rượu đầy

(Nam mô)

           

Nguyễn Văn Nhân đã đi, đi về thể lệ lâm li, đi tìm một nghĩa tương tư mộng, tìm chiếc đũa lạc, đôi dép rớt vào lòng đêm, một bàn tay, mềm đôi môi, thơm mái tóc; tất cả là “nhan sắc tình”. Trời đất, nắng mưa, buồn vui đều khoanh tròn một điểm trung tâm sáng: Em bất tận để mà eo óc, cợt cười, sậm sột điêu linh điêu đứng.

“Xin đừng ngọ nguậy, tình yêu/Lòng buồn quên khép lạnh nhiều hiên mưa” (Ngọ nguậy). Em đi, em gọi để tình lật đật theo chân, để đêm riết róng và chỉ nửa nụ cười cũng quá đủ để nhấp cạn chiều: “Cho tui xin nửa nụ cười/ Đem về dầm rượu uống chơi đỡ buồn” (Chu cha ngó lại là em).

Là nhà thơ đang yêu đến mê man tàng tịch nên cứ dầm dề những cung bậc nhớ thương, đau đớn, hờn giận. Có khi buồn nở thảng thốt trong nụ cười tưa tướp máu: “Chu cha tình ghé thăm tui/ Ngồi chưa nóng đít cáo lui sao đành (Chu cha ngó lại là em); có khi buồn sâu hút, điếu thuốc với tàn canh: “Nửa đêm lặng lẽ ta ngồi/ Thắp lên điếu thuốc tạ đời hồn nhiên” (Tạ); có khi tưởng nhẹ tênh hênh một lóng cóng thiết tha với lọng cọng buồn: “Em cầm giọt lệ đi đâu/ Bỏ ngày đứng ngóng rầu rầu nước xuôi” (Đành đoạn), nhưng cũng có khi buồn nổi loạn vật vã với cơn mưa khuya, ngày vàng lá: “Buồn ai riết róng lên khuôn/ Yêu ma tình mộng điên cuồng trùng vây” (Đay nghiến). Tâm sinh để tình vọng động nên thiên nhiên mưa nắng cơn bão bùng chỉ là cái cớ để nhà thơ dốc cho đầy túi nỗi buồn thường trực. “Ngày đã cạn. Phố buồn thoi thóp. Nắng” (Ban Mê).

            Nguyễn Văn Nhân chưa bao giờ ngộ, chỉ vờ vịt ngộ kiểu như: “Nằm giữa Niết bàn thân rất nhẹ/ Ngủ say lòng chẳng bận vui buồn” (Niết Bàn), vì nếu hỏi anh Niết Bàn ở đâu, nhất định anh sẽ chỉ ngay mặt Tình: “Tôi yêu như kẻ nhập đồng/ Hét lên như thể dứt công án thiền” (Công án thiền). Câu trả lời đã rành rành thưa thốt. Tâm linh nằm trên một đường bay của Tình nên tiếng hét của anh hoàn toàn khác với “trường khiếu nhất thanh” của Không Lộ thiền sư. Và nụ cười em làm tôi no đủ để “viên thành”: Cuộc đời đỏ đỏ xanh xanh/ Cười đi em, đã viên thành, một tôi. Cuối cùng, tự nhạo tự trào cái mặt râu ria, muốn bứt râu trồng hiên nhà em thành ra là một phản ứng, một cách thế “buồn tình”.

Bộ mặt “Tình” gần như bị/được khai thác đến cạn kiệt thế nhưng hơn 100 bài thơ trong “Nuốt trộng quạnh hiu”không nhàm, không nhảm, không lặp vì tác giả đã thực sự vận dụng một hệ thống ngữ ngôn phong phú giàu hình tượng của riêng mình. Đặc biệt là những bài lục bát, những bài thơ giàu Việt tính trên đường bay của chữ. Những từ Hán Việt đèm đẹp, trang trọng, đài các gần như bị hạn chế đến mức tối đa. Ở đây, ta chạm mặt thường xuyên những từ láy, điệp âm, điệp vần thuần Việt, cả những từ dung tục trên cửa miệng thường ngày. Cò kè, cắc ca cắc củm, cà khịa, cà chớn, cà giựt, lì lợm, lui cui, làm reng lại rứa, sật sừ, côm cốp, lèng èng, trỏm lơ, thày lay, tùm lum, chùm hum, tưng tưng, lọng cọng… Mỗi từ trong lòng tay của Nguyễn Văn Nhân là một thế giới của âm thanh, của tâm trạng, của hành vi những sắc màu.

“Chu cha lòng cũng luông tuồng/Trống huơ trống hoát mưa luồn gió lay”. Một không gian trống, cõi lòng trống, nhà trống, trống đến rỗng, rỗng đến không chỉ còn gió, mưa mặc sức tung hoành; lại nghe ngùi ngùi ngậm tiếng cười vờ vịt khi em ngồi chưa nóng đít đã cáo lui. Trống huơ trống hoát đã phát huy tác dụng của nó: rỗng nên vô vọng níu giữ. “Chu cha”che nỗi đắng chát còn“luông tuồng”phớt lờ sự vụ, kiểu thây kệ khi bất lực. “Thấy lòng cũng đã rách hung/ Một bình xương thịt bùng nhùng sân si”. Những “rách hung” với “bùng nhùng” bày biện ở đây không chỉ một cái tâm te tướp mà còn hình dung lên một thân xác thui đen xương cốt gân da sụn. Chữ, như thế đã mở rộng trường ngữ nghĩa, trường liên tưởng, mở cả những khoảng lặng giữa hàng chữ. Tình ngúng nguẩy như mưa ngày bão tới…Em ngúng nguẩy thì ra em mới rợi. Nếu “Tình ngúng nguẩy” diễn tả cái “động” của tình, tình nhảy cỡn, tình đi thì “Em ngúng nguẩy” lại là cái “hình” nhìn từ phía sau khi em quay lưng.. Rồi lại Nghe râu sè sẹ hoa râm hẹn thề. “Râu sè sẹ, lộn xộn râu ria, buồn chẹt chẹt…”. Những câu thơ như thế đầy ám thị, rất Việt, rất Nguyễn Văn Nhân, đã xóa nhòa ranh giới giữa ngôn ngữ nói & viết, giữa văn học bình dân và hàn lâm. Đồng thời ở đây, cùng với  việc chối bỏ chủ nghĩa đặc tuyển và tính chất nghiêm cẩn, Nguyễn Văn Nhân thể hiện rất rõ tâm thức hậu hiện đại: cợt đùa nhân gian…

Giọng điệu của “Nuốt trộng quạnh hiu”còn là sự pha trộn kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, cũ và mới. Vẻ đẹp của thơ vừa âm hưởng Đường thi và hơi thở ca dao, lại trộn một chút ngông của Bùi Giáng, một chút thiền vị của Phạm Thiên Thư với sắc nét của Tố Như, chút lay phay của Trịnh. Bài thơ “Chầu rìa” là một ví dụ tiêu biểu hội tụ các nhà, các sắc màu trong ngữ điệu một bài thơ:

 

Con tim bỏ lại bên chiều

Theo em xuống phố đìu hiu mặt người

Thẩn thờ mấy cánh hoa rơi

Mưa đêm rã rích tiếc đời phù vân

Hững hờ nước vỗ lần khân

Nằm nghe sương rụng tần ngần nửa khuya

Cõi lòng lộn xộn râu ria

Nghỉ chơi sao đặng chầu rìa cũng vui.

 

Thơ, trước hết là cuộc đối thoại với chính mình, với “cái tôi thứ hai” sân si và nhà thơ là người hát rong phát biểu ”tiếng của mình” vào cõi mây cõi gió cõi đời. Tưởng như tóc râu rồi cũng ngược ngạo khi tàn cuộc ngày, tưởng như tiếng thét khoắt khuya để “hàn thái hư” nhưng không, Nguyễn Văn Nhân viết lên tường vôi trắng lên diệp lá hồng khi nỗi mình rối bời, bận bịu cháo lú bùa mê. Thơ chẳng bận tâm giáo điều với khuyến hạnh, chẳng quan tâm chi ma quỷ với thần linh., cũng không mơ màng bản thể với nhân sinh. Thơ mang cái vẻ “ngây ngô” của một kẻ “Đương không cà giựt mỉm cười/Đương vui bè bạn lại ngồi nín thinh/ Đang đêm trở giấc giật mình/Đang người đứng đắn thành người …mê thơ”. Với lục bát, Nguyễn Văn Nhân đang trở về với Việt tính dân tộc bằng chính những con chữ có cánh và tôi tin, anh sẽ còn tiếp tục viết nên những vần thơ giàu chất thi ca như thế./.   

 

TP Hồ Chí Minh 5/1/2011.

 

Lê Vũ

 

Chia sẻ:                   Gửi cho bạn bè
Mỗi độc giả cũng là một tác giả
(Mời bạn cho ý kiến, cảm nhận và lời bình sau khi đọc bài viết trên)
Họ và tên  *
Địa chỉ  *
Email  *
Điện thoại  *
Nội dung (bạn cần sử dụng font chữ Unicode, có dấu; ghi đầy đủ họ tên, địa chỉ, email, điện thoại,... Nếu thiếu các thông tin đó, có thể chúng tôi sẽ từ chối cho hiển thị
 
Các bài khác: