Thứ hai, 08/06/2026,


Chúc mừng 21 tác giả đã vượt qua vòng Sơ khảo Cuộc thi thơ “Tổ quốc và Đạo pháp” lần thứ Nhất, năm Quý Tỵ - 2013 ! (29/07/2013) 

Khoảng đôi chục năm trở lại đây, thi đàn Việt quan tâm nhiều hơn tới thơ Lục bát, với các việc làm tuyển tập, lập ra trang website Lục Bát Việt Nam và tổ chức những cuộc thi, nhằm bảo tồn và phát huy sâu rộng thể loại thơ này. Lục bát quả là một thể thơ cưu nâng được lấy tiếng lòng dân tộc Việt Nam. Thật khó tìm một giai điệu ngôn ngữ nào phù hợp để làm một biểu trưng cho giọng nói Việt hơn là chất giọng mang nhịp điệu nhịp nhàng, êm đềm với những thanh âm cung bậc trắc bằng trong điệu ngôn ngữ của nhịp thức 6 và 8...

Được phép của Ủy Ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, cuộc thi thơ Lục bát với chủ đề "Tổ quốc và Đạo pháp" do website Lục bát Việt Nam phối hợp với một số cơ quan báo chí truyền thông tổ chức. Từ ngày 12/9/2012, tới ngày 15/7/2013 Ban Tổ chức đã nhận được gần 3000 bài dự thi của hơn 500 tác giả; trên 700 bài trong số đó đã được chọn và giới thiệu qua 48 chùm thơ thợ dự thi. Theo quy chế giám khảo: Các uỷ viên Ban Sơ khảo được quyền mỗi người giới thiệu 6 tác giả dự thi có bài đạt chất lượng cao, để từ cơ sở đó Ban Chung khảo chọn lấy 14 tác giả xứng đáng để trao giải Trăng Vàng và Trăng Bạc.

Đây là cuộc thi Thơ Lục bát đã được các cây bút ở khắp nơi trong nước, kiều bào đang định cư, học tập ở nước ngoài hưởng ứng nồng nhiệt. Điểm mạnh của các tác phẩm thơ dự thi lần thứ Nhất này là chất lượng có nhiều chùm bài khá đồng đều. Đề tài rộng, các vấn đề lớn, vĩnh cửu như tình yêu Tổ quộc, Đạo pháp, đạo lý tới cả vẫn đề có tính thời sự như chủ quyền biển đảo, thân phận từng cá thể con người nhỏ nhoi, trong cuộc mưu sinh thường nhật đều được các tác giả quan tâm thể hiện. Ngôn ngữ hình ảnh đẹp, nhịp điệu, niêm luật đặc trưng riêng biệt của thể thơ truyền thống đã được nhiều tác giả tỏ ra tuân thủ chặt chẽ mà cảm xúc thơ ở những bài đó vẫn đạt được sự tươi tắn của hơi thở đời sống, chi tiết mà khái quát. Trong cuộc tổng phổ giai điệu, để tìm được bài hay, có được bút pháp riêng, độc đáo, luôn là một niềm mong gặp ở bất cứ cuộc thì thơ văn nào, riêng với thể thơ Lục bát vốn bị hạn chế bởi số từ và vần luật, thì lại càng bội phần khó khăn. Tuy vậy điều vui mừng chúng ta có thể tự tin là cuộc thi này, ngay năm đầu tiên đã hé lộ những giọng Lục bát lấp lánh, cho hy vọng kết quả cao hơn vào chặng đường tiếp theo.

Đây là nét phác hoạ cảnh quê trong cái nhìn bình dị mà tinh tế, gợi mở:

Heo may dây mướp lắt lay

Như con buộc gió những ngày đương hoa

Góc ao sót cọng sen già

Mấy ngôi sao đất còn da diết vàng.

Cải vườn ngồng chớm đông sang

Ngậm cay câu ví lỡ làng rau răm…

(Chớm đông)

  Đó là thơ Đoàn Văn Thanh. Tác giả Ngô Bá Hoà cũng có những dòng Lục bát về làng quê thơ mộng:

…Rồi những đêm sương chơi vơi

Lưỡi liềm treo một góc trời soi chung

Khuya đỏ quạch tiếng côn trùng

Đường cày trăng vỡ một vùng miên man...

(Những điều bình dị)

  Bài “Ngỡ”, Ngô Bá Hoà viết về tâm linh một cách nhẹ nhàng mà nhuần nhuyễn. Cảnh làng quê, một lần nữa qua thơ Phạm Thành Minh hiện về trẻ trung, dí dỏm, ý vị:

Lúa mót cười cợt thúng quang

Gánh về gánh cả nắng vàng về theo

Chân thoăn thoắt bước xa nghèo

Tóc còn bịn rịn với theo gió đồng…

(Đã tằm thì phải nhả tơ)

Hay,

Cái cày cái cuốc xôn xao

Bờ xôi ruộng mật thơm vào lúa thu…

Cành cao buông tiếng chinm gù

Nắng hong khô hạt mù u đốt đèn

Về làng lạ cũng thành quen

Nón cời chân đất bùn phèn áo nâu...

(Tình quê)

 Đề tài Đạo pháp, hình ảnh ngôn ngữ nhà Phật, giá trị tâm linh đi vào đời sống, với các tác giả Nguyễn Minh Khiêm, Nguyễn Tấn On lại được thể hiện ở cung bậc khác, gần gũi đời thường, bình dị mà thiết thực:

Chum tương lại sát vại cà

Tiếng chày tiếng cối mở ra cánh đồng…

(Sau lá bồ đề - Nguyễn Minh Khiêm)

 

Lửa thiền nhập nhoạng trên sông

Dung dăng đám trẻ đèn lồng tắm trăng…

(Tắm trăng - Nguyễn Tấn On)

  Phạm Minh Giắng khá đắc địa với giọng hài hước, giễu nhại, câu chữ thơ ông tưởng tếu táo thôi mà đọc lên thấy đau đáu thân phận con người, nghĩa lý ở đời:

Giữ đồng xu cũ ngày xưa

Mà ngơ ngẩn lúc con đưa bọc tiền…

(Với lên chạm tới thiên đình)

Và đây nữa:

Kìa kìa có đẹp có vinh

Cây đa cảnh bảnh trong dinh chậu lồng?

Thấp tè chẳng sợ bão giông

Uốn thân giả dáng phượng rồng… vểnh vang…

(Cây đa cảnh)

  Thơ về người mẹ, người chị, người yêu, về vợ con và về những em nhỏ đị bán rạo, trong cuộc mưu sinh vất vả thường ngày cũng là mảng thơ gây được nhiều suy ngẫm, xúc động.

   Biên giới biển đảo đang là vấn đề thời sự nóng bỏng của đất nước  được đề cập với những bài thơ da diết, giầu trách nhiệm công dân:

Vía hồn có, thịt xương không

Hàng trăm mộ gió phập phồng đó đây

Hơi sương sớm

Khói chiều hôm

Xương dâu thịt sét

Bấc nồm gọi lên

Tình quê trả nợ nước đền

Sá gì trôi nổi lênh đênh hình hài…

(Gió từ mộ gió - Nguyễn Ngọc Hưng)

  Cuôc thi mới bước qua vòng Sơ khảo lần thứ Nhất, chặng đường mới đi qua được một năm, lượng bài dự thi gửi về Lục Bát Việt Nam khá nhiều, với sự góp mặt của đủ mọi thành phần tác giả: Nam và nữ; cụ ông cụ bà, có cụ tuổi bẩy, tám mươi. Lại có cả những nhà thơ là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam như Phạm Trọng Thanh, Nguyễn Ngọc Hưng, Nguyễn Thị Thuý Ngoan… Các tác giả quen thuộc, như Minh Trí, Phạm Minh Giắng, Phạm Thành Minh, Du An, Nguyễn Minh Khiêm, Nguyễn Phi Diếu, Nguyễn Hoa Hùng, Phạm Minh Trâm, Nguyễn Văn Nghi, Đào Thị Nghi Dung, Đặng Toán, Việt Thắng, Đỗ Bá Cung, Ninh Đức Hậu, Lương Thế Phiệt, Nguyễn Bá Hoà, Đoàn Văn Thanh, Nguyễn Tiến Bình…

Đò sang kẻ lạ người quen

Mà sao chẳng thấy người em đợi chờ

Bờ sông hoa cải vàng mơ

Vàng như chưa thể bao giờ vàng hơn…

  Dù lạ hay quen, bài dự thi có chất lượng cao hay bài mới đạt về ý tứ mà câu chữ còn có điểm chưa thật đạt, dù bài này hôm nay vào giải bài kia chưa gặp duyên may, tất thảy điều đó, thiết nghĩ chưa phải là điều quan trọng nhất. Điều quan trọng bậc nhất chính là việc chúng ta đã hội tụ đông vui quanh cuộc thi này, vì tình yêu thơ, thiết tha với một loại hình nghệ thuật thơ Lục bát, một giá trị văn hoá văn học vô cùng quý giá của nước nhà.

  "Vàng như chưa thể bao giờ vàng hơn", xin được mượn lời của tác giả Phạm Minh Trâm làm lời kết cho bài viết sơ lược này. Đúng là bên dòng sông thi ca 'Tổ quốc và Đạo pháp" những bông hoa thơ Lục bát từ khắp chốn đã cùng nhau hội về, nở vàng rực rỡ cho một mùa thơ mang rất nhiều ý nghĩa này.

Tuy nhiên, những người được vinh dự làm Sơ khảo lần thứ Nhất cuộc thi này đã tự biết rằng sức đọc mình có hạn, trình độ thẩm định cũng có hạn; bởi thế, chúng tôi đề nghị cho đăng công khai danh sách 21 tác giả đã lọt qua vòng Sơ khảo để bạn đọc cùng kiểm chứng giúp; trước khi Ban Chung khảo chính thức làm việc và vinh danh những người xứng đáng nhất, đúng dịp Ngày Hội Lục Bát Quý Tỵ - 2013!

Thái Bình, đêm 27/7/2013
            Nhà thơ Đỗ Trọng Khơi
           (Điện thoại: 0169 327 6294)

 

 

 

DANH SÁCH TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM ĐÃ QUA SƠ KHẢO

1- Nguyễn Bá Hòa (Quảng Nam): Những điều bình dị; Giọt nắng cuối ngày; Ngỡ

2- Nguyễn Minh Khiêm (Thanh Hóa): Sau lá bồ đề; Anh về với mẹ;

3- Phan Thành Minh (Lâm Đồng): Tình quê; Chị dâu tôi; Đã tằm thì phải nhả tơ;

4- Đoàn Văn Thanh (Hà Nam): Chớm đông; Mẹ đi như hạt sương sa;

5- Nguyễn Ngọc Hưng (Quảng Ngãi): Gió từ mộ gió; Niệm;

6- Phạm Minh Giắng (Thái Bình): Với lên chạm tới thiên đình; Rúc ra rúc rích; Cây đa cảnh;

7- Du An (Điện Biên): Làng trời; Cát bụi xanh rì;

8- Phạm Minh Trâm (Thái Bình): Một mình đong gió chiều đông;

9- Minh Trí (Hải Phòng): Lễ hội cầu mưa;

10- Đỗ Bá Cung (Hải Phòng): Quán quê;

11- Nguyễn Tấn On (Lâm Đồng): Tắm trăng;

12- Ninh Đức Hậu (Ninh Bình): Người đàn bà ngồi trên bậu cửa; Cánh đồng trả ơn;

13- Việt Thắng (TP. Hồ Chí Minh): Đêm đêm hủ tiếu gõ;

14- Lương Thế Phiệt (Hải Phòng): Mo cau; Ổ rơm hơi ấm vẫn còn; Tiếng gậy khua;

15- Phạm Trọng Thanh (Nam Định): Thi khúc Bình Định;

16- Lại Quang Phục (Nam Định): Không gian thiền;

17- Phùng Thị Như Hà (Bình Thuận): Quê tôi miền Trung; Đi giữa muôn trùng; Hành trình tôi đi;

18- Nguyễn Duy Chinh (Thanh Hóa): San hô;

19- Nguyễn Văn Bổng (Nam Định): Đá;

20- Phạm Đình Nhân (Hà Nội): Chiều Hồ Tây;

21- Phạm Khắc Uyên (Hải Dương): Bồ đề tâm; Nhân sinh.

 

 

 

DANH SÁCH THÀNH VIÊN CHUNG KHẢO

Để công việc Chung khảo tiến hành thuận lợi và đạt kể quả tốt, Thường trực cuộc thi đề xuất mời các thành viên sau đây tham gia Ban Chung khảo cuộc thi Tổ quốc và Đạo pháp Quý Tỵ - 2013:

1. Thượng tọa Thích Minh Hiền (Phó Trưởng Ban Văn hóa Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam; Trưởng Ban Văn hóa Thành hội Phật giáo Hà Nội) – Chủ tịch Hội đồng Giám khảo và Cố vấn về Đạo pháp;

2. Nhà thơ Vương Trọng – Trưởng Ban Chung khảo;

3. Nhà thơ Trần Nhương – Ủy viên;

4. Nhà thơ Bùi Kim Anh - Ủy viên;

5. Nhà thơ Thu Nguyệt (TP. HCM) - Ủy viên;

6. Nhà thơ Đặng Vương Hưng - Thường trực.

Lục Bát Việt Nam 

Chia sẻ:                   Gửi cho bạn bè
Mỗi độc giả cũng là một tác giả
(Mời bạn cho ý kiến, cảm nhận và lời bình sau khi đọc bài viết trên)
Họ và tên  *
Địa chỉ  *
Email  *
Điện thoại  *
Nội dung (bạn cần sử dụng font chữ Unicode, có dấu; ghi đầy đủ họ tên, địa chỉ, email, điện thoại,... Nếu thiếu các thông tin đó, có thể chúng tôi sẽ từ chối cho hiển thị
 
  Trần Minh Tâm - songhong358@gmail.com - 01235675794 - Nam Định  (Ngày 05/08/2013 18:56:15)

Ngoài bài thơ "Sau lá Bồ đề" của Nguyễn Minh Khiêm mà hai tác giả Nguyễn Đông Hà và Nguyễn Quang Bình đã nêu thì tôi còn phát hiện ra hai bài thơ dự thi nữa cũng phạm luật, đó là bài: "Một mình đong gió chiều đông" của Phạm Minh Trâm (Thái Bình) và bài: "Đi giữa muôn trùng" của Phùng Thị Như Hà (Bình Thuận). Hai bài thơ này đã xuất hiện từ khá lâu trên các trang mạng như: trannhuong.com; vannghenamdinh.com; vandanvn.net; thegioihoanmy.vn...v.v... Thậm chí bài "Một mình đong gió chiều đông" còn được một số các tác giả khác viết lời bình khá hay, như bài của Nguyễn Thanh Tuyên, của Châu Thạch... Chúng ta có thể dễ dàng vào Google để tìm thấy những thông tin này. Đề nghị Ban CK lưu ý   những tác giả có bài "phạm quy" chưa công bố trên báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng (kể cả trên mạng internet)...

  Lê Thị Hương Thủy  - thuytyty2010@gmail.com - 0936366178 - 283 Tiểu La Đà Nẵng  (Ngày 05/08/2013 18:12:37)

Dạt dào cảm xúc với “Gió từ mộ gió”( Nguyễn Ngọc Hưng)

GIÓ TỪ MỘ GIÓ
Vía hồn có thịt xương không
Hàng trăm mộ gió phập phồng đó đây
Biển vơi thoắt biển lại đầy
Thủy triều lên xuống
Đông?
Tây?
Chập chờn

Hắt hiu ma đóm lửa vờn
Sống thù
Thác bạn
Thiệt hơn nỗi gì
Muôn đời sinh ký tử qui
Không nâu đất cũng xanh rì nước ôm
Hơi sương sớm
Khói chiều hôm
Xương dâu thịt sét
Bấc nồm gọi lên
Tình quê trả nợ nước đền
Sá gì trôi nổi lênh đênh hình hài

Trường Sa muôn dặm cát dài
Gọi Hoàng Sa
Đảo vươn vai nối vòng
Giữ cho biển lặng trời trong
Gió mênh mang thổi
Gió ròng rã bay

Nhẹ bàn chân
Khẽ bàn tay
Anh linh lớp lớp giăng dày nước non
Hùng binh một mất mãi còn
Thổi bùng lên
Gió
Máu son nhuộm trời
Nguyễn Ngọc Hưng

Tổ quốc luôn là đề tài máu thịt, thiêng liêng của các nghệ sỹ nói chung và các thi sỹ nói riêng. Từ thưở cắp sách đến trường, học sinh chúng ta đã sang sảng đọc Bài ca Hắc Hải (Nguyễn Đình Thi), đã kiêu hãnh với Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng (Chế Lan Viên), đã ngân nga Gió lộng (Tố Hữu)… Tổ quốc lộng lẫy! Tổ quốc hào hùng! Tổ quốc kiên cường! Tổ quốc đau thương! Tổ quốc hôm nay đã sạch bóng thù, nhưng, những vết thương lòng không phải đã được hàn gắn hết. Bao thế hệ cha anh chúng ta đã ngã xuống trên chiến trường khốc liệt, đã tan hòa trong đất cỏ quê hương, đã hóa thành sóng gió vô thường, để mãi mãi là nỗi tiếc thương không gì bù đắp được.
Quê tôi bên dòng Thạch Hãn, các anh hùng nằm yên nghỉ dưới sông, thế nên đến ngày Rằm hay Mồng Một, Lễ hay Tết, người ta thả đèn hoa xuống dòng sông tưởng nhớ. Quê bạn ở Quảng Ngãi, đảo Lý Sơn và bao nơi nữa cũng thế và hơn thế, các hùng binh ra đi, yên nghỉ mãi mãi dưới lòng đại dương, vậy nên người ta chỉ thả một vài vòng hoa nhưng lại đắp rất nhiều mộ gió. Mộ gió không có gì, một chút cũng không, chỉ có gió. Gió choàng tay ôm ấp đại dương, gió mơn man ve vuốt đất liền, gió an ủi con côi, mẹ góa, gió ăm ắp bốn mùa chan chứa tình quê. Bài thơ Gió từ mộ gió của Nguyễn Ngọc Hưng đã cho tôi những cảm nhận mênh mông như thế!
Bài thơ đã đem đến cho tôi biết bao xúc cảm, trước tiên là lòng thương cảm đến xót xa, đắng đót:
Vía hồn có thịt xương không
Hàng trăm mộ gió phập phồng đó đây
Biển vơi thoắt biển lại đầy
Thủy triều lên xuống
Đông?
Tây?
Chập chờn
Quang cảnh “Hàng trăm mộ gió phập phồng đó đây” trong không gian biển thoắt “vơi thoắt biển lại đầy”, “Thủy triều lên xuống”, trong cái phương hướng mờ ảo mông lung khó xác định “Đông?/ Tây?/ Chập chờn” thật khiến cho lòng người nao nao khó diễn tả nên lời. Biết chắc là mộ gió chỉ có gió, nhưng câu thơ mở đầu: “Vía hồn có thịt xương không” cũng làm tôi đau lòng muốn khóc. Trước mắt tôi bỗng hiện ra một nghĩa trang mộ gió giữa thăm thẳm biển trời, chập chờn trong sương bay gió hú thật hiu quạnh, hiu quạnh đến rợn người. Phải có một tấm tình dào dạt, một nỗi niềm thương cảm sâu sắc lắm mới có thể có những vần thơ chất chứa nỗi niềm xót xa đến vậy.
Trên cả thương cảm, hình như nhà thơ đã thấu đáo, đã giác ngộ những điều tưởng như khó mà thấu hiểu:
Hắt hiu ma đóm lửa vờn
Sống thù
Thác bạn
Thiệt hơn nỗi gì
Muôn đời sinh ký tử qui
Không nâu đất cũng xanh rì nước ôm
Quan niệm về cái chết của nhà thơ được đặt trong hàng loạt các cặp từ đối nghĩa: Sống- thác, Bạn- thù, Thiệt- hơn, Sinh- tử thật độc đáo và cũng thật giàu tính nhân văn. “Sống thù/ Thác bạn”, đạo lý nhân ái của dân tộc mình chẳng phải cũng đơn giản như vậy thôi sao. (Tôi chợt thấy đâu đây giọt nước mắt thương xót của Nguyễn Du khi chứng kiến cảnh xương trắng phơi đầy thung dưới cửa ải Quỷ môn quan. Cái núi xương trắng kia nào chỉ là của quân xâm lược, mà còn là của những người lính Đại Việt, của những người dân thường Đại Việt nữa. Bây giờ, cùng phơi trắng ở nơi hiu quạnh này. “Sống thù/ Thác bạn” phải chăng cũng như vậy). Một quan niệm khác về cái chết: “Muôn đời sinh ký tử qui”, sống là gửi, chết mới thực trở về, thế nên, mấy hơn- thiệt, thắng- thua rốt rồi hóa thân. Mỗi người chúng ta sớm muộn gì cũng hóa sương hóa gió trở về không đất mẹ cũng biển cha: “Không nâu đất cũng xanh rì nước ôm”. Cái nhìn nhân ái, lạc quan và thật bao dung của nhà thơ cũng chính là sự giác ngộ tư tưởng nhân đạo, đạo lý nhân ái của dân tộc.
thơ tiếp theo lại là một quan niệm khác về cái chết của những anh hùng: Trách nhiệm với Tổ quốc, với dân tộc và tinh thần xả thân với Tổ quốc, với dân tộc:
Hơi sương sớm
Khói chiều hôm
Xương dâu thịt sét
Bấc nồm gọi lên
Tình quê trả nợ nước đền
Sá gì trôi nổi lênh đênh hình hài

Trường Sa muôn dặm cát dài
Gọi Hoàng Sa
Đảo vươn vai nối vòng
Giữ cho biển lặng trời trong
Gió mênh mang thổi
Gió ròng rã bay
Hai khổ thơ như hai ý tương hỗ. Nếu khổ thơ trên là tinh thần trách nhiệm với “Tình quê trả nợ nước đền”, thế nên dẫu “Xương dâu thịt sét”, hình hài “lênh đênh trôi nổi” thì cũng không sá gì; thì khổ thơ dưới lại “bồi đắp” thêm, nâng cao thêm để tinh thần trách nhiệm trở thành ý chí, lý tưởng xả thân. “Xương dâu thịt sét” đã hóa thân thành gió “Mênh mang thổi”, “Ròng rã bay” để nối Hoàng Sa với Trường Sa, nối Trường sa, Hoàng Sa với đất mẹ; để “Giữ cho biển lặng trời trong” thái bình yên ả. (Tôi lại gặp đâu đây khát vọng xả thân vì sự tồn vong của dân tộc của Trần Quốc Tuấn: “… Tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa chỉ căm tức chưa xả thịt lột da… quân thù. Dẫu cho trăm thân phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác gói trong da ngựa cũng cam lòng” ). Phải chăng lý tưởng dâng hiến cho Tổ quốc, xả thân vì dân tộc là điểm chung của các anh hùng! Nhưng hơn thế, kể cả khi đã “Xương dâu thịt sét”, họ vẫn muốn cống hiến, vẫn muốn có ích cho Tổ quốc. “ Mênh mang thổi”, “ ròng rã bay” là hình ảnh tuyệt đẹp về lý tưởng ấy.
Nhẹ bàn chân
Khẽ bàn tay
Anh linh lớp lớp giăng dày nước non
Hùng binh một mất mãi còn
Thổi bùng lên
Gió
Máu son nhuộm trời
Khổ thơ cuối đã gieo vào lòng tôi niềm kiêu hãnh vô bờ. “Anh linh lớp lớp giăng dày nước non” đang góp gió để thổi bùng lên khát khao gìn giữ bờ cõi yên bình. Hình ảnh “Máu son nhuộm trời” ở cuối bài thơ là khát vọng cờ đỏ mãi mãi mãi tung bay trên vùng trời, vùng đất và vùng biển Tố quốc thân yêu. Họ đã hy sinh, nhưng mãi mãi, máu của họ đã tô thắm màu cờ Tổ quốc, như ánh bình minh rạng rỡ chân trời.
“Gió từ mộ gió” của Nguyễn Ngọc Hưng đã mang đến cho người đọc thật nhiều cung bậc cảm cảm xúc. Với khổ thơ lục bát truyền thống, để chuyển tải bao tâm trạng dồn nén, nhà thơ ngắt dòng sáu, dòng tám thành nhiều dòng, tạo nên một âm hưởng bi ai mà hùng tráng, như những tiếng nấc nghẹn ngào vừa xót thương, khắc khoải vừa thúc dục, kiêu hùng. Những cung thanh cảm xúc: Từ xót xa đến khâm phục rồi tự hào; Từ thấu hiểu cái chết đến trân trọng lẽ sống; Từ thấm nhuần đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” đến lý tưởng cống hiến, xả thân... đã khiến ta yêu quý hơn, có ý thức bảo vệ, gìn giữ tốt hơn những thời khắc đang được sống yên bình, hạnh phúc.
Đà Nẵng 5/8/2013
Hương Thủy

  Nguyễn Quang Bình - duannguyen2002@yhaoo.com - 012303827947 - Mường Chà   (Ngày 03/08/2013 19:00:47)

Quả đúng bài thơ Sau lá bồ đề đã được giải, tôi có đọc kết quả cuộc thi thơ cảu TC Cửa Việt. Không biết nội dung bài này có trùng với bài công bố của Lục bát Vn Ko. Mong BGK, BanTC xem xét cặn kẽ tránh oan cho tác giả, và công bằng cho mọi tg dự thi.

  Nguyễn Đông Hà - dongha2@gmail.com - 09734564656 - Quảng Trị  (Ngày 03/08/2013 10:55:03)

Kính gửi Ban Giám khảo Cuộc thi Tổ quốc và Đạo Pháp
Tôi là một bạn đọc yêu thơ Lục Bát và cũng là một Phật tử
Xin hoan nghênh việc BTC đã cho đăng danh sách Tác giả - Tác phẩm đã qua vòng Sơ khảo để bạn đọc cùng "giám sát chấm điểm". Cách làm công khai hóa này rất hay, nó đỡ "lùm xùm", hạn chế tiêu cực, như một số cuộc thi gần đây đã mắc phải...
Đọc lại chùm thơ của 21 tác giả, chúng tôi phát hiện ra bài "Sau lá bồ đề" của tác giả Nguyễn Minh Khiêm (Thanh Hóa) là một bài thơ hay, xứng đáng được nhận giải Trăng vàng của Lục Bát VN, nhưng đáng tiếc là nó đã được tác giả gửi dự thi Tạp chí Cửa Việt,và được giải cao cách đây chưa lâu. Như vậy, tác phẩm này đã "phạm quy" cần loại khỏi vòng Chung khảo. (Khả năng "giám sát" của chúng tôi cũng có hạn, không biết trong số 21 tác giả trên, còn trường hợp nào thế không?)
Qua đây, là người yêu thơ chúng tôi cũng muốn đề nghị: Dự thi thơ là quyền của mỗi người, nhưng không nên "bắt cá nhiều tay", hoặc thủ thuật "gian dối". Bởi đây là một cuộc thi thơ liên quan đến Đạo pháp và văn hóa tâm linh.
Trân trọng
Nguyễn Đông Hà

Các bài khác: