Tóm lại, đọc xong tập thơ “Dốc thiêng” của người đồng nghiệp nữ đôn hậu hiền lành mà tôi thường gọi là “tiểu muội”, tự nhiên thấy lòng thật thanh thản. Thanh thản bởi chữ “Tình”, đã được Trương Nam Chi giải quyết nhẹ như không: “Lạt mềm em buộc làm sao/ Phút giây ai đổ dầu vào lửa than/ Phút giây tiên bụt quy hàng/ Phút giây lòng dạ ruột gan bời bời” (Lạt mềm…). Thanh thản bởi chữ “Đời”, đã được cô cảnh báo: “Ra đường bụng nhủ dạ rằng/ Tránh xa kẻ cướp nhập nhằng thường dân/ Coi chừng gặp kẻ tà tâm/ Giả danh nhân nghĩa kết nhầm tâm giao” (Tự nhủ)...
Ấn tượng đầu tiên của tôi khi gặp Trương Nam Chi rất gọn ghẽ. Đó là một mệnh phụ thầm kín, bẽn lẽn nhưng nồng nàn hương sắc đàn bà. Có thể gọi đó là “gia vị cuộc đời chăng”? Là một dạng “Spice girls” như tên một ban nhạc nữ nổi tiếng của nước Anh từng làm dậy sóng nửa phần kia của nhân loại?
Coi, nửa phần kia thì ai nấy đều biết. Nó thuộc về đàn ông, lớp độc giả đàn ông từ thanh niên đến sồn sồn. Loại đàn ông chọn lọc mà nếu kết hợp với người nữ sẽ thừa sức sinh đẻ ra 100 trứng như bà Âu Cơ huyền thoại.
Cũng may mà trong tập thơ “Dốc thiêng”, người đàn bà cầm bút mang tên Trương Nam Chi chỉ khai hoa nở nhụy đúng 54 trứng, đúng 54 bài thơ nửa quen nửa lạ, nửa gần nửa xa, nửa thân mật nửa hững hờ. Ngay trong bài thơ “Tự giới thiệu” đầu thi tập, nữ sĩ họ Trương đã biết cách nói về mình: “Bụi em phiêu bạt thiên hà/ Gặp cơn gió chướng la đà bay lên/ Mưa em rơi giữa nhớ quên/ Một hôm kiêu hãnh tràn trên sông hồ/ Nắng em mai phục bất ngờ/ Đậu trên vai áo đợi chờ… bâng khuâng/ Đoan trang vương nửa chừng xuân/ Là em - hát khúc trầm luân vô thường”… Nghe có vẻ “lên gân”, nhưng kỳ thực lại dịu dàng hết sức, nó như cung tơ chùng xuống tối đa mang giai điệu “Bụi em”, “Mưa em”, “Nắng em” nối liền phong cách thơ từ quá khứ đến hiện đại, từ nét điềm đạm quý phái của Bà Huyện Thanh Quan đến thế kỷ 21 với những nàng Hồ Xuân Hương chân đất thách thức đòi hỏi nữ quyền.
Trương Nam Chi biết tôi như là một “thi sĩ đàn anh” và từng là đồng đội lớp trước của cô ở đơn vị Bộ Tư lệnh Thành (Quân Khu 7). Tuy nhiên, nếu chỉ biết nhau như thế vẫn là chưa đủ, chúng ta còn cần thêm điều kiện “ắt có” cho đủ mệnh đề để cấu tạo nên tình thân đồng điệu, và điều kiện “ắt có” ấy chính là đây. Là tập thơ “Dốc thiêng” khẳng định được sở trường phóng tay làm “Lục bát” của nữ sĩ. Không tin, mời bạn liếc qua bài thơ “Suông…” chỉ vẻn vẹn 4 câu phá cách mà “thấm” khả năng “chơi chữ giỡn từ” bao la của cô. Ở bài thơ này, hai chữ “suông” và “nhạt” săn đuổi nhau làm thành một bức tranh âm nhạc “Serenade” trữ tình: “Rượu suông/ Nhạt mảnh trăng thề/ Tình suông/ Nhạt cỏ ven đê hững hờ/ Chuông suông/ Nhạt giọt thẫn thờ/ Chiều suông/ Nắng nhạt/ Em chờ/ Đêm suông”.
Chao ôi Lục bát! Cái thể loại thơ phổ cập dùng để hát ru, hò vè, quen thuộc như ca dao, nhưng chất chứa biết bao là tinh hoa thâm thúy. Chính vì quá dễ làm, nên thơ Lục bát dễ biến thành con dao hai lưỡi đối với những người làm thơ tập sự như chơi. Ở đây Trương Nam Chi không sợ chảy máu đứt tay, cô đủ bản lãnh và kinh nghiệm khi nắm đàng cán “con dao” Lục bát. Ta hãy đọc bài thơ “Sợ…” của cô: Đừng nhìn như thế/ Em say/ Sợ về ru mối tình chay bốn mùa/ Tình yêu nào dễ bông đùa/ Mai này hờn giận lên chùa trách nhau/ Đừng nhìn như thế/ Em đau/ Con tim mềm yếu có đâu tội tình/ Sợ đem ra giữa sân đình/ Mặc cho thiên hạ mắng mình bạo gan/ Đừng nhìn như thế/ Em can… (Thực ra tôi chỉ muốn kết thúc bài thơ ở hai chữ “Em can…”, nhưng Trương Nam Chi là Trương Nam Chi, cô vẫn là một mệnh phụ thầm kín thích giãi bày cảm xúc đến nơi đến chốn).
Cũng cần phải nói, trong “Dốc thiêng” không chỉ thuần túy Lục bát, Trương Nam Chi còn thể nghiệm sáng tác các thể loại khác như thơ tự do, thơ bốn chữ, thơ bảy chữ, thơ bậc thang… tuy nhiên sự “ép phê” bạn đọc không thể bằng loại “hàng độc Lục bát” mà cô sở trường. Xin trích ở đây vài đoạn thể loại khác có cấu tứ, vần điệu ổn định: “Men rượu cần chỉ là duyên cớ/ Mắt đổ sóng vào nhau mà không nỡ/ Nhỡ nhàng này hẳn tại lá bùa mê/ phố núi chông chênh dan díu lối em về…” (Có một lần dan díu), hoặc “Giá không say câu hát/ Trên đỉnh đồi hoàng hôn/ Giá mùa trăng khao khát/ Đừng làm em điếng hồn (Đơn phương), hay là “Người đàn bà/ Vượt qua chiến tranh/ Xuyên qua hòa bình/ Thấy rõ mình/ Đơn độc” (Chuyện nơi đầu phố)
Tóm lại, đọc xong tập thơ “Dốc thiêng” của người đồng nghiệp nữ đôn hậu hiền lành mà tôi thường gọi là “tiểu muội”, tự nhiên thấy lòng thật thanh thản. Thanh thản bởi chữ “Tình”, đã được Trương Nam Chi giải quyết nhẹ như không: “Lạt mềm em buộc làm sao/ Phút giây ai đổ dầu vào lửa than/ Phút giây tiên bụt quy hàng/ Phút giây lòng dạ ruột gan bời bời” (Lạt mềm…). Thanh thản bởi chữ “Đời”, đã được cô cảnh báo: “Ra đường bụng nhủ dạ rằng/ Tránh xa kẻ cướp nhập nhằng thường dân/ Coi chừng gặp kẻ tà tâm/ Giả danh nhân nghĩa kết nhầm tâm giao” (Tự nhủ), càng thanh thản hơn khi cô một hôm tự nhiên biến mất: “Qua cầu mà vắng dáng em/ Gió bay khuyết hẳn một bên… đừng buồn” (Tơ lòng).
Coi, buồn làm sao được hả Trương Nam Chi, “Sức mấy mà buồn, buồn ơi bỏ qua đi tám…”*
Sài Gòn, ngày 10 tháng 4 năm 2013
Nhà thơ Bùi Chí Vinh
* Lời trích ca từ từ một bản nhạc nổi tiếng của Phạm Duy