Ngày 27/01/1973, Hiệp định Paris được ký kết. Ngày 15/02/1973, tất cả 904 nữ Tù binh chúng tôi được địch trao trả hết về cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tại sân bay Lộc Ninh. Tôi trở về trên chiếc băng-ca đã gắn bó suốt gần 5 năm tù đày. Sau đó, tôi được đưa về bệnh viện Bình Phước để điều trị cùng với một số anh chị em thương bệnh binh nặng khác. Những ngày đầu tiên mới ra tù, hàng ngày tôi được tiếp xúc với rất nhiều nhà báo, nhà thơ, nhà văn, quay phim, chụp ảnh… mà tôi không thể nào nhớ hết. Nhưng chỉ có một người mà từ đấy về sau nầy trở thành người anh, người bạn thân thiết của tôi, đó là Nhà thơ Đỗ Nam Cao...
Chân dung tác giả bài viết
Ngày ấy, anh và họa sĩ Phạm Đỗ Đồng đi đâu cũng có nhau như hình với bóng. Hai anh tìm đến thăm tôi qua sự giới thiệu của chị Huỳnh Bửu Lan (sau nầy là vợ của nhà thơ, nhạc sĩ Diệp Minh Tuyền). Hai anh ở thị trấn Lộc Ninh, còn bệnh viện Bình Phước nơi tôi nằm ở xã Lộc Tấn, nếu đi bộ phải mất hơn tiếng đồng hồ. Những ngày không lên thăm tôi được, hai anh vẫn gửi lên cho tôi những món quà nho nhỏ. Rồi một hôm hai anh đến, anh đưa cho tôi một cuốn sổ do tự tay anh đóng lấy, trong đó có bài thơ “Hoa trong bệnh viện” anh dành tặng tôi và một số bài thơ nữa của anh. Bìa cuốn sổ được anh Đồng trình bày rất đẹp. Tôi đã nâng niu cuốn sổ đó như một kỷ vật vô giá cho đến tận bây giờ.
Tôi và anh đã có rất nhiều kỷ niệm, nhưng có vài kỷ niệm mà tôi không thể nào quên. Đó là trong một lần anh em chuyện trò anh hỏi tôi: ”Em thích loài hoa nào nhất?”. Tôi trả lời anh: ”Em thích bông hồng trắng”. Tôi nghĩ chỉ là nói cho biết thế thôi. Vậy mà không ngờ, mấy hôm sau anh đến thăm tôi, trên tay anh cầm một gói quà được gói trong giấy báo cẩn thận. Anh bảo tôi nhắm mắt lại, khi mở mắt ra thì trước mặt tôi là hai bông hồng trắng bằng nhựa được cắm trong một cái chậu nhỏ cũng bằng nhựa trắng. Trời ạ, ở giữa vùng đất chỉ toàn cao su, lại vừa mới trải qua những trận đánh nhau ác liệt đến xơ xác thế nầy mà anh kiếm đâu ra được 2 cái bông hồng trắng (dù chỉ bằng nhựa) thế nầy!? Tôi nhận chậu hoa từ tay anh mà cảm động đến rơi nước mắt.
Ngày sinh nhật của tôi năm 1973, tôi đang theo bệnh viện sơ tán vào sâu trong rừng cao su. Tối hôm đó trời mưa tầm tã, tôi không ngờ anh từ K3 băng rừng, đội mưa để mang bánh kẹo vào mừng sinh nhật tôi. Tình hình Lộc Ninh lúc ấy mà đi như vậy là rất liều lĩnh. Chính vì thế mà anh đã không cho Hồng theo cùng. Càng thương tôi lại càng trách anh vì cái sự liều lĩnh đó. Nhỡ xảy ra chuyện gì với anh chắc tôi ân hận cả đời.
Ngày ấy thân thiết với anh là vậy, nhưng cái cơ duyên để anh và tôi vẫn giữ được mối quan hệ mật thiết với nhau cho đến cuối đời lại đến từ một nguyên nhân khác. Đó là Thu Hồng vợ anh. Hồng như sợi dây kết nối tình cảm giữa tôi và anh.
Trở lại thời kỳ ở Lộc Ninh. Hồi ấy khi tôi và anh đã thân nhau anh thường đi sâu tìm hiểu đời sống tình cảm của tôi. Khi tôi nói với anh tôi có một đứa em gái mà tôi rất yêu thương khi còn ở tù, có tên là Trần Thu Hồng, hiện đang ở dưới K6, xóm Bưng. Thế là anh vội đi ngay xuống xóm Bưng để tìm Hồng. Và ngay trong lần gặp gỡ đầu tiên ây anh đã “kết” với Hồng. Ngày ấy Hồng còn ngây thơ lắm. Hồng tham gia Cách mạng, từ năm 13 tuổi, 14 tuổi đã bị bắt vào tù. Hồng là một trong số ít nữ tù binh nhỏ tuổi nhất nhưng cũng kiên cường nhất của nhà tù Phú Tài (Qui Nhơn) lúc bấy giờ. Tôi coi Hồng như đứa em ruột thịt. Tôi đã dạy văn hóa cho Hồng suốt những năm trong tù. Hồng thông minh nên tiếp thu bài vở rất nhanh. Thông minh, xinh đẹp cộng với sự hồn nhiên, Hồng như thỏi nam châm hút hồn bao chàng trai và rồi Cao cũng đã không kiềm được lòng mình trước nhan sắc ấy.
Khoảng 3 tháng sau, anh phải trở về trên R (Trung ương cục miền Nam). Tôi và Hồng chia tay anh trong bịn rịn, lưu luyến và có cả nước mắt. Anh về nhận nhiệm vụ đi xuống Trảng Bàng (Tây Ninh). Tôi và Hồng cũng phải sơ tán vào tận sông Măng, giáp biên giới Campuchia. Đây cũng là điểm tập kết để chúng tôi chuẩn bị ra miền Bắc. Trước ngày lên đường, Hồng nhận được thư anh. Hồng mang sang đưa cho tôi đọc. Đó là lá thư tỏ tình đầu tiên anh gửi cho Hồng. Nhưng cái con bé ngớ ngẩn, ngây thơ có tên là Hồng ấy lại đưa cho mọi người cùng đọc mới chết chứ! Thư anh viết ý tứ lộn xộn, xóa bỏ tùm lum. Tôi đọc mà tháy vừa buồn cười vừa thương anh. Thì từ một cô em kết nghĩa chuyển sang thành “người yêu” anh lúng ta, lúng túng cũng phải thôi. Tôi bảo Hồng trả lời anh nhưng hắn cứ giẩy nẩy lên: ”Em không viết đâu, không viết đâu! Em biết nói gì với anh ấy bây giờ ?!”. Thế là Hồng im luôn cho đến ngày ra miền Bắc.
Giải phóng miền Nam, tôi từ Lộc Ninh về Sài Gòn và được đưa vào nằm điều trị tại bệnh viện Trưng Vương. Chỉ vài ngày sau, tôi được gặp lại anh sau hai năm xa cách, qua thông tin dây chuyền từ bạn bè. Trong những cuộc chuyện trò hai anh em vẫn luôn nhắc đến Hồng. Thì ra anh vẫn có được tin tức thường xuyên của Hồng qua những người thân của anh ngoài Bắc. Vào thời điểm ấy Hồng đang trị bệnh ở Quế Lâm (Trung Quốc).
Đầu năm 1976, tôi chuyển về Đà Nẵng để đoàn tụ với gia đình. Giữa năm 1977, anh và Hồng bất ngờ xuất hiện tại nhà tôi. Một cuộc đoàn tụ đầy tiếng cười và nước mắt mừng vui. Lúc bấy giờ, Hồng đang học văn hóa ở Từ Hồ. Rồi anh đưa Hồng vào Sài Gòn. Một đám cưới giản đơn, nho nhỏ nhưng thiếu vắng tôi được tổ chức. Đầu năm 1979, Hồng sinh con gái đầu lòng. Anh viết thư báo tin cho tôi có đoạn: ”Anh và Hồng quyết định lấy tên em để đặt cho con gái của anh. Tên cháu là Đỗ Trần Vũ Phương…”. Tôi hiểu và trân trọng tình cảm đó của anh và Hồng.
Một số nữ tác giả của Lucbat.vn chụp ảnh kỷ niệm với bà Trần Thu Hồng (áo đỏ).
Hồng được chuyển về nhận nhiêm vụ tại Công ty Lương thực thành phố Hồ Chí Minh do cô Ba Thi làm giám đốc. Đang ăn nên làm ra thì tháng 11/1991, Hồng gặp nạn phải vào vòng lao lí. Đó là cái giá Hồng phải trả cho việc “đi tắt, đón đầu” táo bạo mà người chủ trương là cô Ba Thi, nhưng người bật đèn xanh là chú Sáu Dân (Võ văn Kiệt). Sau đó không lâu cô Ba được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng Lao dộng Thời kỳ Đổi mới“. Suốt những năm tháng Hồng bị bệnh tật, Cao bỏ hết công việc, con cái để luôn có mặt bên người vợ mà anh hết mực thương yêu.
Tháng 6/2011, tôi gặp đại nạn. Sau mấy ngày bị chết lâm sàng, gia đình đang chuẩn bị hậu sự thì tôi tỉnh lại. Hàng trăm người thân, bạn bè đến chật sân bệnh viện C Đà Nẵng để chờ nhìn mặt tôi lần cuối. Anh Cao từ Quảng Ngãi phóng xe ra, Hồng cũng từ Sài Gòn bay ra vội vã. Hé mắt ra, trong trạng thái nửa mê, nửa tỉnh tôi không thể nhớ hết nổi những khuôn mặt người thân đến thăm tôi lúc đó. Nhưng không hiểu sao chỉ có gương mặt anh là còn đọng lại rõ mồn một trong trí nhớ của tôi. Vẫn mái tóc lòa xòa che hết trán, đôi mắt kính râm tròng to màu hồng nhạt, anh hỏi tôi có nhận ra anh không? Tôi khẽ gật đầu. Nhưng có ai ngờ đấy là lần cuối cùng tôi nhìn mặt anh.
Tháng 7/2011 anh Cao lâm trọng bệnh. Hồng đã lo lắng cho anh hết mình với đầy đủ bổn phận và trách nhiệm của một người vợ. Vết mổ bụng đã để lại di chứng cho tôi quá đỗi nặng nề, tôi phải nằm một chỗ không thể đi lại được, nên dù rất muốn xuống thăm anh nhưng “lực bất tòng tâm”. Hai ngày trước hôm anh ra đi, tôi điện thoại cho Hồng và bảo Hồng đưa máy cho anh để tôi gặp anh, nhưng Hồng bảo “Anh lắc đầu, anh khóc chị ạ”. Tôi đau thắt lòng, nước mắt tuôn rơi.
Hồng vẫn túc trực bên anh cho đến những giây phút cuối, khi anh còn kịp thều thào gọi Hồng! Hồng! Hồng!... ba tiếng rồi trút hơi thở cuối cùng. Anh đã từng viết: “Rồi anh sẽ yên nằm dưới cỏ. Thì tình yêu chưa thể đã yên nằm.” (trích trong bài thơ “Ly hôn” của anh). Trên thực tế anh và Hồng chưa bao giờ ly hôn. Dẫu sao đây cũng là cái kết có hậu cho cuộc đời và cuộc tình nhiều sóng gió của hai người.
Vâng, em biết. Anh chưa bao giờ thôi yêu Hồng, phải không anh? Giờ đây Hồng đang quẩn quanh với thằng cháu nội có cái tên Đỗ Trần Thy Ca mới hơn 2 tháng tuổi để làm niềm vui. Cái tên của đứa cháu mà anh ước ao và đặt trước từ lâu.
Anh ra đi mới đó mà đã tròn một năm. Bài viết nầy như một nén nhang muộn màng em thắp cho anh. Cầu cho linh hồn anh mãi mãi siêu thoát. Nhớ anh lắm, anh Cao ơi!
Nhân ngày giỗ đầu của nhà thơ Đỗ Nam Cao, tháng 10/2012
Trần Duy Phương