Thứ bảy, 13/06/2026,


"Thiên đường mùa xuân" và sự tri ân của những người lính (16/10/2012) 
Tôi cùng Trần Hữu Thực gặp nhau sau chiến tranh. Nói cho đúng hơn là sau khi tốt nghiệp đại học. Lúc bấy giờ, theo chủ trương của Ban Tuyên huấn Trung ương, lấy sinh viên tốt nghiệp đại học trong và ngoài nước về Trường Tuyên huấn Trung ương tiếp tục đào tạo đại học chính quy bằng hai về báo chí xuất bản. Duyên nợ chúng tôi gặp nhau, những người lính vừa ra khỏi chiến tranh, vẫn còn trong đói nghèo tụ lại.
 
Đại tá- Nhà văn Nguyễn Thụ, PGĐ - PTBT Nhà xuất bản Công an nhân dân
 cùng TS. Trần Hữu Thực, Giám đốc, TBT Nhà xuất bản Thống kê
 
Lớp đại học xuất bản khóa ba, gần bốn năm với bao kỉ niệm. Ra trường cả ba người bạn thân, tôi – Nguyễn Thụ - đại học Tổng hợp Văn Hà Nội, Trần Hữu Thực – đại học Kinh tế Quốc dân, Dương Xuân Dược – đại học Tổng hợp Sài Gòn đều đã thực hiện ước mơ là được công tác tại Hà Nội. Cả ba là người lính, hợp tính nết, cả ba coi nhau như anh em trong nhà.
Thời gian cứ lặng lẽ trôi đi, muộn mằn nhưng cuối cùng chúng tôi đều có gia đình. Ở gần nhau, vì công việc mỗi người một khác nên ít có dịp gặp mặt. Đùng cái, Trần Hữu Thực tặng tôi cuốn sách “Nghệ thuật kinh doanh”. Tôi bất ngờ trong một niềm vui khẽ khàng. Ngay phút giây đầu tiên, trang sách đầu tiên, những thuật ngữ kinh doanh ùa vào trong tôi, với lối hành văn dễ hiểu, dễ cảm nhận. Tôi đọc trong hai đêm và thấy cái đích mình phải phấn đấu. Chẳng bao lâu, các ý tưởng và nội dung một số cuốn sách khác đã là nên móng để Trần Hữu Thực bảo vệ thành công Luận án Tiến sỹ kinh tế tại Đại học Thương mại.
Tôi biết Trần Hữu Thực sinh ra trong một gia đình nông thôn ở miền quê Trung du. Cái làng của anh là một cù lao nhỏ giao nhau giữa sông Thao và sông Bứa. Anh sinh ra, theo mẹ anh kể, là ngày mười ba tháng Tám âm lịch, giờ dậu, trên chiếc cối xay đặt trên hai chiếc giường chồng lên nhau, vì mùa nước đang lên. Tất cả mọi người từ già tới trẻ: đi học, làm ruộng, thả trâu, đánh cá… đều phải qua sông. Cả làng hàng trăm chiếc thuyền xuôi ngược. Cuộc sống khó khăn do chiến tranh, do bao cấp mấy khi được no. Củ sắn thay cơm, nổi chìm theo mùa lũ lụt… Nhưng chính sống trong thiên nhiên bãi bờ mênh mông như vậy, khiến cho con người có cái nhìn bao dung, rộng lượng. Họ chấp nhận đương đầu với tiếng trông chèo thôn Đoài, Hùng Đô, Phong Vực… vẫy gọi. Nhà thơ Bút Tre cũng đã sống ở nơi này. Chính đất làng và các phong tục hồn nhiên chất phác đã tạo nên bản sắc thơ ông.
Những năm 70 của Thế kỷ XX, cũng như bạn bè cùng trang lứa, người đi thanh niên xung phong, người đi bộ đội, Trần Hữu Thực lên đường. Với cảm nhận tinh tế và những khát khao cống hiến, một thời anh đã viết những bài thơ đầu tiên, những trang nhật ký đầu tiên về bạn bè, đồng đội, những mản đất đau thương, trung dũng mà anh đã đi qua. Đặc biệt, tôi đã được xem lại lá thư đầu tiên chập chững mối tình đầu chớm nở… Cứ như thế, theo chiến tranh, Trần Hữu Thực lớn lên và biết yêu – Tình yêu của những anh lính tuổi hai mươi… Ngay đến bây giờ, ngoài công việc, gia đình, lý lịch ngày xưa của Trần Hữu Thực tôi chỉ biết là như vậy.
Thật là thú vị và cũng thật bất ngờ, khi sắp bước vào cái tuổi lục tuần Trần Hữu Thực lại có một món quà giành tặng cho đời, cho những người thân, trong đó có tôi. Tập bản thảo của anh tôi đang có trong tay với tựa đề “Thiên đường mùa xuân” làm tôi vô cùng xúc động. Tập bản thảo gồm 36 bài thơ, và chùm ca khúc 10 bài hát tròn đầy, tri ân, lung linh, tha thiết… Linh cảm của tôi có một điều gì đó khác thường, bay xa, thần bí.
Tôi đã đọc nó nhiều lần, dường như thuộc cả tập thơ của Trần Hữu Thực. Chùm ca khúc của Trần Hữu Thực vang lên tri ân, bao dung, đi vào lòng người. Mỗi bài hát là một giai điệu của các vùng miền khác nhau, có bi hùng của “Khúc tráng ca Thành Cổ” nhưng có cái hùng tráng, khẳng định chủ quyền đất nước ở ca khúc “Trường sa Hoàng sa mãi trong ta”. Thơ trong nhạc, nhạc trong thơ, nhưng những lắng đọng và sâu xa nhất trong các tác phẩm của anh là tình yêu quê hương, đất nước, là thiên đường và mùa xuân xung quanh mỗi chúng ta. Qua tác phẩm, tôi thấy anh là người vừa hiện thực vừa lãng mạn,, anh tâm tình lại cuộc đời anh, tri ân mẹ cha, quê hương, ngành nghề, bạn bè đồng đội… Anh đã viết với tất cả cảm xúc của mình, dường như không còn ngày mai để ân nghĩa. Thơ nhạc đi ra từ tâm hồn anh, để rồi qua các thanh độ, trường độ giọng ca của ca sỹ Minh Quang va đập dồn nén, với tất cả thần khí và uy lực làm say đắm lòng người. Ca từ làm dịu đi những mất mát đau thương, giai điệu phong phú nhiều cung bậc khi cuồn cuộn một tình yêu Hà Nội, lúc tươi trẻ lại tuổi xuân khi trẩy hội Lim…
 
Bìa tập thơ Thiên đường mùa xuân
 
Điều đáng nói là bố cục tập thơ nhạc được anh sắp xếp rất khéo léo. Mỗi bài thơ là một bài hát vang lên tiết tấu, giai điệu theo chủ đề và ngay sau đó là một bài thơ lục bát ẩn ý nghĩa triết học sâu sắc. Chẳng hạn “Khúc hát Giao thừa” với giai điệu đẹp, lấy hơi thở từ đất trời, muôn mai đào khoe sắc. Ca từ như vẽ lên một bức tranh, cảnh vật vui tươi lòng người náo nức suốt từ Nam đến Bắc chờ đón xuân về. Với sắc vàng của mai, với sắc hồng của đào chớm nở…
Tết tết đến rồi
Mai đào chớm nở
Cổng làng rộng mở
Chờ đón xuân sang…
Thật là ngỡ ngàng khi điệp khúc chính trong bài hát vang lên thôi thúc, chào đón những điều tốt đẹp nhất của một năm mới.
Xuân xuân đến rồi
Giao thừa gõ cửa
Thiên đường rộng mở
Chờ đón xuân sang…
Nghe giai điệu như phập phồng hơi thở. Cái rộn ràng, xôn xao của lòng người, cái tươi mới của cảnh sắc, đất trời làm cho lòng người say đắm. Nghe ca khúc ta càng yêu cuộc sống hôm nay, yêu con người hôm nay và càng thêm yêu Tổ Quốc.
Nghe xong “Khúc ca giao thừa” hãy lặng yên để chiêm nghiệm ca từ, giai điệu Mùa xuân thấm vào lòng người, cây cỏ. Đọc tiếp vần thơ anh qua bài thơ “Thiên đường mùa xuân” ta ngạc nhiên và càng tin yêu cái Thiên đường chính trong ta, qua mắt ta, đi từ tâm đi ra hòa vào đất trời, tình người và vũ trụ.
Tâm vui mở mắt Thiên đường
Muôn vàn cảnh sắc vô thường hiện ra
Lắng nghe nhạc điệu lời ca
Âm thanh nhảy múa ngỡ là mùa xuân…
Với “Tình yêu người lính”, chia tay nhau lên đường, mùa hoa cải nở tràn ra bến sông rồi lan man đi đến tận chân trời. Chia tay người hậu phương đêm trăng còn khuyết. Em mười lăn mười sáu, anh mười chín đôi mươi… Chiếc khăn tay là vật kỷ niệm mà đợi chờ mòn mòn, để sân nhà ai tơi bời hoa xoan tím rụng… Dòng sông anh, dòng sông chiến tranh chảy mãi, cho bến lở, bến bồi… Ngày trở về gặp nhau, em phải đi lấy chồng quá thời con gái…
Gặp nhau lòng những ngại ngần
Trót yêu nên đã một lần khổ đau
Chưa trầu chưa thuốc chưa cau
Mà anh vương mãi tình đầu ngày xưa…
Trong Trần Hữu Thực, qua các bài thơ thấy rõ nhất sự tri ân, sâu nặng về quê hương Phú Thọ, về Hà Nội, nơi anh và gia đình sinh sống, về đất Quan Họ, quê hương của người vợ đảm; đặc biệt với “Tôi yêu nghê Thống kê” sâu sắc đến nỗi:
Tôi yêu nghề Thống kê
Hóa thân vào con số
Lắng nghe mầm đất thở
Cho ruộng đồng sinh sôi…
Nhưng với tôi, đặc biệt với tôi, Trần Hữu Thực luôn ân nghĩa với bạn bè, với đồng đội. Anh kể với tôi là anh khóc như mưa khi vào viếng Đài tưởng niệm Thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn. Và anh đã viết nên ca khúc: “Khúc tráng ca Thành Cổ”; Với 81 ngày đêm, hầm sập, bom rơi, pháo nổ, đạn nổ. Và:
                             81 ngày đêm, thuyền đắm, bom rơi, sông ngầu, máu đổ…
                             Để cho Đất nước bay lên hôm nay, để cho Quảng Trị hồi sinh hôm nay.
Bạn bè tôi nhiều người đã ngã xuống, tôi trở thành thương binh trong cái Mùa Hè Đỏ Lửa ấy. Âm thanh mùa hè, đau thương nhưng kiêu hãnh, sẽ mãi mãi hồi sinh và bất diệt. Mùa Hè của những linh khí hồn thiêng, tượng đài của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, khí phách của con Lạc cháu Hồng, khí phách của Việt Nam. Giai điệu tình cảm, biết ơn, sâu lắng.
Khúc tráng ca. Mùa hè đỏ lửa.
Máu nhuộm đất này; Thành Cổ… Tuổi hai mươi…
Đêm tráng ca. Dòng sông đỏ lửa
Máu nhuộm sông này; Thạch Hãn… Tuổi hai mươi…
Cả nước biết ơn, Tổ Quốc ghi công các anh hùng liệt sỹ. Cầu cho các anh được siêu thoát, linh hồn các anh về cõi Niết Bàn để cho non sông, đất nước mình mãi mãi bình an.
Trần Hữu Thực có lần nói với tôi rằng “Biết sinh tử là một quy luật của tạo hóa, thì cần phải sống có ý nghĩa hơn”. Chúng ta hãy sống sao cho xứng đáng với những người đã hy sinh cho chúng ta, cho Tổ quốc này. Con người thông minh, trí tuệ luôn phải giữ gìn đạo đức, sớm thoát khỏi khổ đau, tham, sân, si… Hãy lạc quan, yêu đời như ngàn đời ông cha ta đã làm vậy.
Không biết ính, không biết mất đi
Sắc- sắc không- không Lý – Sự gì?
Vẫn thấy xuân hồng xuân bất tận…
Vô thường sinh, tử, bệnh hề chi.
Nhân đây, tôi cũng cảm ơn Trần Hữu Thực đã tiếp cho tôi sức mạnh để tôi sống và làm tròn phận sự của một nhà văn.
Hôm nay, ngày Tết Độc lập 2012. Tết Nguyên Đán sắp đến rồi. Bài hát “Khúc ca giao thừa” y như mùa Xuân gia đình anh và ước vọng mà anh hằng mong muốn.
Xuân xuân đến rồi
Rượu nồng hơi ấm
Môi em tươi thắm
Lòng anh xôn xao…
Mùa xuân mùa xuân
Có tự bao giờ
Mưa xuân phơi phới
Đi vào trong thơ…
Bức tranh bình yên, tình yêu, thiên đường, cuộc sống đúng như Trần Hữu Thực – Một người bạn thân, một người đồng chí đồng đội của tôi, một người bao giờ cũng vui tươi đi cùng mùa xuân.
 
Hà Nội, mùa Thu năm 2012
Đại tá- Nhà văn Nguyễn Thụ (Hoàng Huệ Thụ)
(Phó Giám đốc kiêm Phó Tổng biên tập
Nhà xuất bản Công an nhân dân)
 
Chia sẻ:                   Gửi cho bạn bè
Mỗi độc giả cũng là một tác giả
(Mời bạn cho ý kiến, cảm nhận và lời bình sau khi đọc bài viết trên)
Họ và tên  *
Địa chỉ  *
Email  *
Điện thoại  *
Nội dung (bạn cần sử dụng font chữ Unicode, có dấu; ghi đầy đủ họ tên, địa chỉ, email, điện thoại,... Nếu thiếu các thông tin đó, có thể chúng tôi sẽ từ chối cho hiển thị
 
Các bài khác: