Thứ hai, 08/06/2026,


Đoàn Lê - một nữ sĩ đa tài (30/08/2012) 

        Nghe danh, biết tiếng chị Đoàn Lê đã hơn một thập niên nay nhưng tôi chưa có dịp may nào được hầu chuyện riêng cùng chị, bởi dù đã về hưu nhưng chị lúc nào cũng bận. Chị bận viết truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản phim. Chị bận vẽ tranh, làm đạo diễn, đi thực tế, dự  trại sáng tác nơi này nơi kia. Có khi chị nhận lời mời của một tổ chức hay bạn bè ở nước ngoài, du ngoạn một chuyến dài dài vài ba tháng mới trở về cố hương.
      

Nhà văn Đoàn Lê

          Mấy năm lại đây chị lãnh thêm cái chức Giám đốc Trung tâm Văn hóa nghệ thuật thành phố Cảng, tập hợp anh chị em văn nghệ sĩ tâm huyết yêu nghề, tự lo kinh phí làm một vài bộ phim do chính mình vừa biên kịch vừa đạo diễn. Công việc cứ cuốn chị đi như thế, tôi chẳng có cơ hội nào gặp gỡ, tìm hiểu cuộc hành trình hiến thân cho văn chương nghệ thuật của chị, một người, một tên tuổi mà tôi hằng ngưỡng mộ. Hẹn mãi, đợi mãi đến một buổi sáng giữa Thu năm con Mèo này tôi cũng hạnh ngộ được ngồi đối ẩm, “ phỏng vấn” chị tại nhà riêng tọa trong khu vườn nhỏ rợp bóng cây và rộn tiếng chim nơi xóm núi Đồ Sơn.
       Nhớ lần đầu tiên gặp chị, nom vóc dáng mảnh mai sang trọng, nghe  thanh điệu nói cười nhẹ mềm lịch lãm của chị, tôi cứ ngỡ chị là người Hà Nội. Một người Hà Nội gốc, cấm cung lâu ngày nơi lầu son gác tía nay về xứ biển để hóng gió, đón nắng cho tươi nhuận con người. Nhưng sau thì tôi biết mình đã nhầm. Chị không phải là dân Hà Thành nhàn tản đi đến chốn thanh tĩnh trong lành để kiếm liều thuốc trường sinh bất lão, mà chị trở về sống, làm việc ở Hải Phòng nơi chị sinh ra, lớn lên và xa biệt từ ngày tuổi mới hoa niên.
       Đoàn Lê là con gái một cụ đồ nho đất Cảng. Gia đình có nghề thuốc gia truyền. Cụ đồ có ý hướng cho cô con gái yêu thông thái nối nghiệp nhà. Nhưng khi ấy cô hoa khôi phố biển Đoàn Lê đang thì mộng mơ bay nhảy nên không vâng theo ý phụ thân, mà thi vào học Khoa Điện ảnh, Trường Sân khấu Điện ảnh Hà Nội.
       Sau vài năm rèn nghiệp, ra trường Đoàn Lê được điều về Hãng Phim truyện Việt Nam. Những ngày đầu làm diễn viên ở Hãng phim, chị có tham gia đóng một vài vai, rồi lấy chồng, sinh con, bận bịu và cũng thấy mình không hợp với nghề diễn viên nên xin chuyển sang thiết kế mỹ thuật, vẽ cảnh giả. Làm công việc này nhiều khi chị phải buộc dây vào người treo mình trên giàn dáo cao, cầm panhxô để vẽ mây trời. Lao động vất vả cực nhọc như một phu hồ như vậy nhưng chị vẫn dành thời gian đi học hội họa. Quyền năng của người họa sỹ được cầm cọ thả hồn mình phiêu du biến hóa cùng màu sắc, hình khối, đường nét, sáng tối huyền ảo luôn rủ rê, mê hoặc chị. Sư phụ truyền nghề cho chị ngày đó là hai danh họa Dương Bích Liên và Bùi Xuân Phái. Hai người thày lớn và vô cùng khả kính ấy hết lòng nâng đỡ, chỉ dẫn cho cô trò nhỏ say nghề. Niềm đam mê hội họa của các ông đã ngấm thấm vào tâm thức chị, được chị giữ gìn ủ cất trong tâm hồn cho đến tận tháng năm này, để mỗi lúc buông bút rời bàn viết chị lại cầm cọ vẽ tranh. Chị đã vẽ được hàng trăm bức tranh sơn dầu khổ lớn. Tranh của chị đủ triển lãm riêng mấy cuộc và  góp mặt trưng bày cùng các họa sỹ khác ở các Galery sang trọng ở Hải Phòng và Hà Nội. Những họa phẩm của chị mang đến cho người chiêm ngưỡng niềm xúc cảm tươi mới, cùng rất nhiều ngẫm ngợi bởi vẻ đẹp tao nhã, đằm thắm và cả hút cuốn mê hoặc của nó nữa.
       Tình yêu của Đoàn Lê dành cho hội họa và thành công của những bức tranh kia mới chỉ là một phần trong mối tình lớn và trong gia tài sáng tạo phong phú mà chị đã dâng hiến cho văn học nghệ thuật những năm tháng đã qua của đời mình.
        Từ ngày đang còn là một nữ sinh lớp chín Trường cấp ba Phan Chu Trinh ở Hải Phòng, Đoàn Lê đã có thơ đăng báo. Năm mười tám tuổi, Đoàn Lê viết bài thơ Bói hoa được bạn yêu thơ hồ hởi đón nhận. Thi phẩm Bói hoa đến  giờ vẫn còn nhiều người đọc nhắc nhớ.
       Sau “dư ba của Bói hoa” năm 1959, Đoàn Lê chuyển sang viết văn xuôi. Và thật bất ngờ ngay từ các truyện ngắn đầu tiên: Đôi mắt hoa nhài, Trương Viên, Cây xoan non của Đoàn Lê đã lần lượt được in trên hai tờ báo danh tiếng: Văn nghệ và Đại đoàn kết. Thành công này giúp chị có thêm tự tin dấn bước vào nghề văn nghiệp chữ.
        Bước sang những năm bảy mươi, tám mươi, Đoàn Lê lại thử sức viết kịch bản phim truyện. Và lần này Đoàn Lê không chỉ thành công mà còn thành danh là một biên kịch vững tay với những phim: Bình minh xôn xao, Cha và con, Làng Vũ Đại ngày ấy  nổi tiếng một thời.
        Trong cuộc đời lao động văn học nghệ thuật, Đoàn Lê là người không chịu ngồi yên, không bằng lòng ngắm nhấm hả hê với cái mình đã có. Chị luôn tự  “hành mình”, chấp nhận đối mặt với nhọc nhằn thành bại, tìm mọi cách khai mở địa hạt, loại thể mình chưa từng kinh qua để sáng tạo, mong góp được chút ít ích lợi nào đó cho cuộc đời, và cho mỗi phận người mà chị hết lòng yêu quý. Chị làm thơ, làm diễn viên, chị làm thiết kế mỹ thuật điện ảnh, chị vẽ tranh, làm biên kịch, làm đạo diễn rồi cầm bút viết văn, luôn chung thủy với lý tưởng này và bù lại, dường như ở lĩnh vực nào Đoàn Lê cũng giành được ít nhiều thành công nhất là văn xuôi.
        Sau gần hai mươi năm có chùm truyện ngắn xuất hiện trên văn đàn, năm 1988 Đoàn Lê mới lại công bố thiên tiểu thuyết đầu tay Cuốn gia phả để lại. Khoảng thời gian lặng lẽ này đã giúp chị có thêm trải nghiệm và vốn sống để thai nghén xây dựng nên một tác phẩm dài hơi theo ý mình. Và cũng chính cái sự chậm chắc, không vội vàng sinh non, nở ép đó đã đem lại vinh quang cho chị. Tiểu thuyết Cuốn gia phả để lại được Hội Nhà văn Việt Nam trao giải thưởng; một giải thưởng văn chương danh giá mà mỗi người cầm bút yêu nghề đều mơ ước.
        Thành công của tiểu thuyết này là một cú hích thúc giục Đoàn Lê hăm hở lao vào tác thành các tác phẩm mới. Không lâu sau là những tiểu thuyết Người đẹp và đức vua 1991; Thành hoàng làng xổ số, tập truyện ngắn 1992; Lão già tâm thần, tiểu thuyết 1993 lần lượt ra đời.
         Đoàn Lê  có sức làm việc rất đáng nể. Cùng một lúc chị có thể làm nhiều công việc khác nhau mà không bị sự ôm đam chi phối. Nhiều lúc tôi đã toan hỏi chị có bí quyết nào chăng mà một người thân hình mảnh như cây dương, cây liễu, ngày ngày phải đối mặt trước cả một đống công việc vẽ tranh, biên kịch, đạo diễn phim, điều hành Trung tâm Văn hóa nghệ thuật, trí lực, cảm xúc tiêu hao luôn ở mức “ quá tải” là thế mà chị vẫn hoàn thành ngon lành tất tật là nghĩa làm sao? Là tôi mới định, chứ biết chắc chị chẳng trả lời. Mà nếu trả lời, chị cũng cười trừ mà nói: “Mình chẳng có bí quyết, bí kíp siêu đẳng gì đâu mà cứ mê thích cái gì là làm tới thôi chú ạ”.
         Trong vài lần gặp chị Đoàn Lê vồi vội, thường khi tôi khen chị, cũng chỉ  thấy chị cười rồi nói lảng sang chuyện khác. Nhưng lần mục sở thị cùng với cật vấn này tôi nhẩm tính và quyết làm phép thống kê về chị trong mười năm đầu qua thiên kỷ này chị đã kịp “thích” rồi kịp viết được đến bốn tập truyện ngắn:
Nghĩa địa xóm Chùa, Trinh tiết xóm Chùa, Người khách đêm giao thừa, Và Sex, cộng lại có dư cả một ngàn trang, chưa nói tập tiểu thuyết Tiền định mới in năm 2010 ba bốn trăm trang nữa thì thật đáng phục vô cùng.
        Chị Đoàn Lê chưa phải là nhà văn thuộc hàng kiện tướng viết nhiều, in nhiều trong làng văn Việt, nhưng tôi nghĩ chị là một người may mắn gặt hái được nhiều niềm vui trong các nhà văn đương đại thời đổi mới. Bởi cứ mỗi lần chị có thêm một tác phẩm đến với bạn đọc là y như rằng người ta không chỉ hào hứng đón nhận mà còn nhớ luôn, mến luôn tác giả nữa.
        
Tiểu thuyết là một phần thành công trong nhiều thành công khác trong sự nghiệp lao động văn học nghệ thuật “đa năng” của Đoàn Lê, nhưng phải đến khi những thiên truyện ngắn, những tập truyện ngắn đặc sắc của chị xuất hiện trên văn đàn mới mang lại niềm vinh quang hạnh phúc nhất trong đời văn của chị. Truyện ngắn đã dựng khắc, xác lập đẳng cấp tên tuổi văn chương của Đoàn Lê. Đoàn Lê được nhiều người biết đến là một người đa tài, đa danh nhưng hơn hết sáng tác văn chương và chỉ danh xưng Nhà văn mới là tiêu biểu nhất, mới là cách suy tôn, xướng gọi đúng nhất về chị. Đó cũng là sự đánh giá xứng đáng giá trị nghệ thuật của các tác phẩm văn chương mà Đoàn Lê đã cống hiến cho văn học.
        Truyện ngắn là một thể loại mà Đoàn Lê  từng tiên lượng, yêu thích từ lâu. Có lần chị tâm sự: “Tôi đặc biệt rất thích viết truyện ngắn. Chỉ những gì không thể viết ngắn được thì tôi đành chịu. Truyện ngắn là sự tinh lọc của ngôn ngữ nên đòi hỏi phải công phu, không thể đùa được. Khi viết tôi quan tâm đến số phận con người…Cái kết trong truyện ngắn là cực kỳ quan trọng, nếu bỏ nó đi coi như truyện không còn nữa. Còn như đón nhận của người đọc với tác phẩm thì bao giờ cũng là điều bí ẩn, ít ra là đối với tôi”. (Theo Dũng Nguyên: Có một Đoàn Lê, Báo Phụ nữ Hà Nội, số ngày 27- 7- 1991).
        Nhưng có lẽ ngoài cái tài văn chương như trời đất đã mặc định vào Đoàn Lê, tôi mạo muội hẳn chị còn có mối nhân duyên với truyện ngắn nữa chăng? Tôi nghĩ vậy là vì khi đọc các truyện ngắn Trinh tiết xóm Chùa (Giải thưởng Báo Văn nghệ) cùng loạt truyện cũng về xóm Chùa: Người đẹp xóm Chùa, Giường đôi xóm Chùa, Nghĩa địa xóm Chùa tôi thấy chị viết “ rất nhàn”. Chị viết cứ như không, cứ như câu chuyện cuộc đời, sự vật, thân phận con người- nhân vật nó vốn thế, chị chẳng cần sáng tác hư cấu gì. Nhưng sau khi đọc xong truyện rồi gấp sách lại thì các chi tiết, ngữ cảnh, nhân vật từ các trang chữ ấy bỗng hiện lên thành hồn cốt, tinh vía, nó  ám ảnh người ta mãi. Nó như gió, như nước, hư thực, hữu hình, vô ảnh cuốn người ta, mê hoặc người ta khôn cưỡng lại sự cười, buồn, thương, xót xa rồi mở mắt ra mà thức ngộ, mà nhận chân cuộc sống.
        Thường nhật, nom dung nhan nhà văn Đoàn Lê thật dịu dàng, tươi hiền, nhưng văn chị thì khoát hoạt, hài hước, hóm hỉnh, ám ảnh cuốn hút đến mức ma diệu. Chẳng trách sách chị viết ra không chỉ được phát hành tơi tới ở trong nước mà còn được các dịch giả chuyển ngữ “xuất khẩu” ra tận nước ngoài.
        Nắng giữa trưa mùa Thu vàng như mật ong, lọc qua các tán lá cây vườn xanh xùm xòa quanh ngôi nhà xinh xắn của chị Đoàn Lê như nhắc tôi trời đã vào độ trưa rồi. Tôi xin phép chị  ra về thì  em gái chị - nhà thơ Đoàn Thị Tảo từ đâu về rổn rảng thêm câu chuyện nên chưa thể nào cáo biệt.
         Đoàn Thị Tảo là người đã viết bài thơ Cho một ngày sinh tặng chị gái Đoàn Lê của mình. Và bài thơ đó cũng là phần lời của bài hát Chị tôi do nhạc sĩ Trọng Đài phổ nhạc.
        Tôi không biết hát mà chỉ nhớ ca từ và giai điệu tha thiết yêu thương ắp đầy xúc động của bài hát ấy thôi. Thế là chị ơi… Rụng bông hoa gạo… Ô hay, trời không nín gió cho ngày chị sinh…Ngày chị sinh trời cho làm  thơ…Cho nết buồn vui bốn mùa trăn trở…
        Tôi nhẩm nhớ bài hát Chị tôi rồi nhìn chị Đoàn Lê và bỗng nhiên tôi tự hỏi tôi rồi lại tự đáp lời mình: Chị Đoàn Lê đúng là nhân vật được vận vào những ca từ của bài hát ấy? Thế nên chị mới có số sắp đặt của ông Giời. Và ông Giời đã dõi giúp, trợ lực thì chắc chắn cái danh tài văn chương nghệ thuật của chị mới được như nay và sẽ còn là sáng láng đầy cơi thêm nữa./.   

                                                                 Vũ Quốc Văn

                                                       (Nguồn Tạp chí Cửa Biển)

Chia sẻ:                   Gửi cho bạn bè
Mỗi độc giả cũng là một tác giả
(Mời bạn cho ý kiến, cảm nhận và lời bình sau khi đọc bài viết trên)
Họ và tên  *
Địa chỉ  *
Email  *
Điện thoại  *
Nội dung (bạn cần sử dụng font chữ Unicode, có dấu; ghi đầy đủ họ tên, địa chỉ, email, điện thoại,... Nếu thiếu các thông tin đó, có thể chúng tôi sẽ từ chối cho hiển thị
 
Các bài khác: