NXB CAND: Mùa thu 1976, tôi tốt nghiệp Đại học An ninh. Mấy năm sinh viên tôi mê mẩn sáng tác văn thơ, từ những tờ báo tường, những bài thơ tình truyền tay bạn bè, những câu thơ đọc trong các sinh hoạt văn nghệ… tạo nên “tên tuổi”. Có lẽ vì vậy mà mấy ông tổ chức phân tôi về công tác tại Phòng Sáng tác của ông Lê Tri Kỷ.
Buổi ra mắt thủ trưởng và nhân viên...
- Chào chú!
- Ở cơ quan không có chú cháu. Anh. Tôi. Anh và Tôi.
- Vâng, chào anh.
Ba câu đầu tiên, tôi đã cảm thấy ngán Trưởng phòng quá:
- Tại sao anh lại xin về Phòng Sáng tác văn học?
- Tôi không xin. Tổ chức phân công.
- Anh có biết, làm việc ở đây là làm gì không?
- Dạ, biết.
- Anh có sáng tác văn thơ gì chưa?
- Dạ, có. Làm thơ và viết truyện thiếu nhi.
- Được đăng ở đâu chưa?
- Dạ, chưa.
Ông ngậm tẩu, trầm ngâm một lúc, phà khói và kết luận:
- Ta thỏa thuận với nhau. Tôi nhận anh làm việc một năm. Nếu anh không có khả năng, tôi trả anh về tổ chức. Ở nhà trường người ta đào tạo anh là sĩ quan phản gián cơ mà!
Từ phải qua: Nhà văn Lê Tri Kỷ và nhà văn Phùng Thiên Tân, TP. Hồ Chí Minh năm 1982.
Cùng đợt lính mới với tôi, chị Thu Trang - thủ khoa Tổng hợp văn, anh Bùi Văn Chức - cử nhân Lịch sử đã có sáng tác ở Hội Văn nghệ Hà Sơn Bình.
Trưởng phòng Lê Tri Kỷ gặp riêng tôi:
- Hai vị kia, học văn và viết văn rồi. Cậu thì chưa. Bây giờ, hai vị kia phải học nghề công an, còn cậu phải học văn.
Và ông dạy tôi theo kiểu của ông.
Thứ Hai đầu tuần, ông ghi ra mảnh giấy nhỏ tên mấy cuốn sách có ở thư viện Bộ. Tôi lên, mượn được cuốn nào về báo cáo ông. Ông gật, đọc đi. Tôi đọc cả ngày và đêm. Thứ Bảy cuối tuần, ông gọi tôi. Bước một, kể lại câu chuyện. Tôi nhớ, đó là những cuốn “Chiến tranh và hòa bình”, “Đỏ và đen”, “Đi-tê con của người đời”, “Sông Tha-mi trong xanh”… và một số tác phẩm trong nước.
Bước hai, vừa nghe tôi kể lại cốt truyện tác phẩm, ông vừa trò chuyện với tôi. Cậu có thích tác giả không? Tại sao thích. Thích nhân vật nào? Thích đoạn văn nào…? Thích chi tiết nào…?
Bước tiếp theo. (Khi mà ông thấy tôi là cậu trò nhỏ bắt đầu có cảm tình). Tranh luận. Tại sao tác giả xây dựng các nhân vật như vậy, có thừa ai không, có nên thêm ai nữa không? Tại sao lại có chi tiết này, tại sao nhân vật lại nói câu này…
Mùa Thu 1977, ông gửi tôi tham dự học lớp viết kịch của Hội Sân khấu Việt Nam tổ chức. Tôi nhớ bên Công an có anh Văn Báu đã nổi tiếng với “Bản danh sách điệp viên”, và anh Phạm Kim Anh đã có “Mối tình qua tết Li boong”. Tôi vốn ghét sân khấu lắm. Nhưng phải theo học. Biết tôi sợ sếp mà học nên mỗi hôm thấy tôi về cơ quan, ông lại hỏi han tôi, ở đấy những thầy nào dạy, dạy gì… Ông động viên, toàn thầy xịn, những bài này bổ ích cho việc viết văn của cậu sau này lắm. Kịch bản sân khấu và tiểu thuyết đều phải có cốt truyện, phải biết xây dựng nhân vật, tình huống, ngôn ngữ nhân vật…
Sau này, khi viết đã quen tay rồi, tôi mới “à”, vốn học khóa viết kịch thật cần thiết.
Từ trái qua: các nhà văn Phùng Thiên Tân, Lê Tri Kỷ, Văn Phan và Bùi Minh Chức năm 1978.
Tôi phải kể tại sao sau một năm, ông không trả tôi về đơn vị phản gián.
Căn phòng chừng hai chục mét vuông. Bảy cái bàn úp mặt vào tường. Không khí im phăng phắc, thỉnh thoảng có tiếng rít thuốc lào và sau đó là tiếng ho sù sụ của Trưởng phòng. Các cán bộ khác, lớn tuổi như anh Văn Phan, Ngôn Vĩnh, làm cái gì cũng nhẹ nhàng, lâu lâu nghỉ giải lao mươi phút, ra hiệu bằng mắt, kéo nhau ra hành lang trò chuyện. Các anh đã có tác phẩm và có danh tiếng trong ngành rồi, sắp bạn mới Chức, Trang sau mỗi đợt đi thực tế cũng có bài ký, thơ phú… không khí sáng tác được Trưởng phòng nhen nhóm và cổ súy làm ai cũng say mê, lao động sáng tạo một cách tự giác và có chút ganh đua lành mạnh.
Tôi thi thoảng có bài thơ trên báo Công an, thấy được Trưởng phòng cầm báo đọc, tôi len lén nhìn đầy lo lắng. Ông không ra chê, chỉ cười nhẹ: “Còn nhạt lắm, từ ngữ sáo rỗng lắm.” Và tôi nhanh chóng nhận ra, thơ viết về đề tài Công an rất khó, dễ mòn. Phải viết văn xuôi. Viết cái gì? Vốn sống, đề tài? Phải viết!
Sau nhiều suy nghĩ trăn trở, tôi quyết định viết về đề tài thiếu nhi. Vốn sống của bản thân tôi và quê hương tôi trong những năm chống máy bay Mỹ phá hoại miền Bắc.
Nghĩ và làm ngay. Tôi xây dựng cốt truyện, nhân vật. Và hăng say viết. Ban ngày đọc sách theo yêu cầu của Trưởng phòng. Buổi tối, ăn cơm xong, pha trà đặc cho tỉnh táo. Viết. Say mê viết. Cuống cuồng viết.
Đến cái hạn “sau một năm”, tôi mạnh dạn trình ông một tập bản thảo dày khoảng 300 trang viết tay. Đấy là tác phẩm “Lũ trẻ ngã ba Bùng” mà sau này tôi nhận giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1982.
*
Sau khi viết xong tiểu thuyết “Hồ sơ chưa kết thúc” thì tôi xây dựng gia đình và vào Nam sinh sống.
Xin kể thêm về chuyện lấy vợ của tôi. Thời điểm ấy, tức là sau khi thành lập Nhà xuất bản Công an nhân dân, tôi được cử công tác vài tháng Bắc, vài tháng Nam. Ở Hà Nội tôi có cô bạn gái nhỏ (sau này thành một người nổi tiếng). Ở Sài Gòn tôi có một cô bạn gái là thôn nữ. Cả hai thiếu nữ đều có tình cảm tốt đẹp với tôi. Phó Giám đốc Lê Tri Kỷ rất quan tâm đến chuyện lấy vợ của tôi (tôi đã 30 rồi). Ông tâm sự với tôi, như người cha và con trai (tôi chỉ tuổi con ông). Hết xa đến gần. Cuối cùng ông gay gắt hỏi tôi: “Cậu có định theo đuổi lâu dài nghiệp văn chương không?”. Tôi “dạ” và gật đầu dứt khoát. Ông nói ngay: “Làm văn chương, có khi nhắm mắt xuôi tay mới thấy vinh. Làm văn chương không có tiền tài. Chọn vợ, cậu phải chọn người phụ nữ chấp nhận được cái nghèo, cái tủi nhục của nghề. Con trai tôi, tôi không khuyên can, nhưng cậu, tôi phải khuyên can, cậu nên lấy cô thôn nữ!”
Cuộc sống vợ chồng mới của chúng tôi rất khó khăn, vất vả. Nhà ở tạm cơ quan. Cha mẹ hai bên nghèo không nhờ vả được gì. Tôi vừa lo công tác vừa phải lo kiếm thêm tiền sinh hoạt. Ông rất thương tôi, luôn nhắc nhở tôi quan tâm gia đình và cũng luôn nhắc tôi không quên việc sáng tác.
Vài năm sau, khi ông nghỉ hưu rồi (những năm 1986-1988) tôi liên tục ra sách. Cuốn nào tôi cũng gửi ông. Nhận sách là ông đọc ngay và bao giờ cũng gửi cho tôi những lá thư dài, nhận xét tác phẩm. Tôi cho đấy là những chỉ giáo thật sâu sắc và chân tình của một người thầy. Bây giờ, trong kỷ vật cuộc đời, những lá thư này tôi vẫn giữ một cách trân trọng.
Thời điểm ấy, một số tác giả viết sách “mì ăn liền”, ông rất mừng, viết thư động viên tôi, cậu vẫn giữ được ngòi bút đấy. Tôi luôn coi những lời khen của ông như một phần thưởng.
Năm 1989, ông bảo tôi làm đơn xin vào Hội Nhà văn Việt Nam. Ông ký tên mình là người giới thiệu. Và năm sau, tôi được kết nạp hội viên. Ông vui lắm.
Hà Nội, tháng 5 năm 2012
Nhà văn PHÙNG THIÊN TÂN
(Điện thoại: 0908 086808)