Nhân dịp này, nhà báo Trần Đức, Phó Tổng Biên tập Báo Bắc Giang và nhà báo Ngọc Anh, Báo Nông thôn ngày nay đã phỏng vấn nhà văn Đỗ Chu.
Thưa ông, người ta nói bắt đầu thế nào thì kết thúc thế ấy, giờ có thể hiểu là với ông, một con đường dài văn học đã ở hồi kết và đó là một kết thúc có hậu. Nhưng với thế hệ trẻ hôm nay, nhiều người chưa hình dung nổi những năm tuổi trẻ ông đã bước lên văn đàn với một phong độ ra sao. Xin ông nhắc lại đôi nét về thuở ban đầu ấy?
Ngày đó, tôi còn đang uể oải học cho xong niên học cuối cùng của trường phổ thông cấp III Hàn Thuyên (Bắc Ninh), bỗng thấy phải cầm bút và viết liền mấy cái. Những trang đầu tay in ở cuối tạp chí VNQĐ số 12-1962, gọi là đoạn văn ngắn "Ao làng". Mở đầu thế này: "Cái ao trước đình làng tôi rộng lắm, mùa hè quỳ sen nở đỏ một vùng, u tôi thường ra cầu ao vớt bèo…", nó đúng là cái ao đình vào mùa hạ làng Mật Ninh, xã Quảng Minh của tôi.
Sang đầu 1963, vẫn trên tạp chí VNQĐ, vào số Tết, tôi lại có truyện "Hương cỏ mật". Câu chuyện được bắt đầu từ một cái làng nhỏ dưới chân núi Con Voi. Ngồi viết trên một gác xép dưới ánh đèn dầu đêm rất nhiều muỗi ở phố Tiền An (thị xã Bắc Ninh) nhưng trong dòng suy nghĩ sáng tạo lại đưa các nhân vật của mình về với chốn chôn nhau cắt rốn. Là bởi vì dù tôi có đi xa đến đâu thì cái tình của tôi với quê nhà vẫn luôn luôn được giữ ấm trong lòng. Đấy là chuyện một đời. Về sau, tôi đi Đông đi Tây khắp thiên hạ nhiều lúc vẫn chợt nghĩ đến quê nhà. Sau "Hương cỏ mật" cùng năm đó còn tiếp tục in thêm ba truyện nữa.
Cũng là lúc bắt đầu nhập ngũ, tháng 7-1963, làm chiến sĩ pháo cao xạ Trung đoàn 228 đóng ở phố Thắng (Hiệp Hoà). Cuối năm ấy, tôi được gọi về nhận giải Nhất cuộc thi truyện ngắn của tạp chí VNQĐ. Bây giờ mỗi lần mở bức ảnh chụp hôm đó tôi đứng giữa một bên là anh Dũng Hà, một bên là anh Lâm Phương vẫn thấy lòng rân rân. Mình là một binh nhì tuổi quân mới được 6 tháng trong khi hai anh đều đang là cán bộ cấp trung đoàn cả rồi, là những cây bút vững vàng có truyện ngắn hay được giải thưởng. Sau lưng các anh là một vốn sống đầy ắp, còn mình thì đã có gì ngoài một tuổi thơ no đói văng vật, học hành thì lơ mơ chả đâu vào đâu…
Thế mà ngay từ những trang văn đầu tiên của ông, người đọc đã thấy ở đó nhiều trải nghiệm với chất văn ngọt ngào, sâu lắng…
May mắn là sau lưng mình còn có một miền quê Kinh Bắc vững chãi nền tảng văn hóa dân tộc và một gia đình có nền nếp. Tôi biết ơn cha mẹ đã cho tôi ra đời trên một cái nôi vàng ấy. Sau này tôi đã từng viết: "Có con sông Thương chảy vào đời tôi, lại có con sông Cầu chảy qua đời tôi và những trang sách hay của nhân loại nâng bước tôi theo năm tháng". Quê nhà theo nghĩa rộng với người cầm bút cứ mở dần ra cùng với sự trưởng thành không ngừng của mỗi tác giả, đến một lúc gặp cả dân tộc, cả đất nước, nhưng với tôi nhìn lại thì thấy chính là đã bằng đôi cánh quê nhà mà bay lên kịp anh kịp em.
Thưa ông, là một người đọc sớm, lại đọc thường xuyên, vậy ông thích những ai hơn cả trong các nhà văn Việt Nam cận đại và hiện đại?
Tôi thích hơi nhiều đấy. Ông Nam Cao hay quá nhưng ông Vũ Trọng Phụng cũng đâu có vừa. Rồi các ông ở Tự lực văn đoàn, Tiểu thuyết thứ 7, rồi như Hàn Mạc Tử thì còn biết ông ấy là thuộc văn đoàn nào nhưng đấy lại là một thánh thi. Đến cụ Ngô Tất Tố thì mới đúng là một tập đại thành, một người khổng lồ uyên thâm của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Tôi muốn anh chị nghĩ đến hàng mấy ngàn bài phóng sự nghiên cứu ông cụ viết cho mấy tờ báo hồi trước Cách mạng Tháng Tám, còn chỉ như tiểu thuyết tiểu thiếc ông cụ viết thì đã đâu vào đâu. Ông cụ hiểu sâu nông thôn ta trước cách mạng, nghèo đói dốt nát nhưng không phải chỉ có thế, cũng đẹp mà ra dáng ở nhiều phương diện, đặc biệt là có một nền văn hóa Việt nằm trong chốn ao tù. Tôi sớm quan tâm tới vấn đề thuần Việt rồi đời sống tinh thần của người Việt ở các vùng quê. Quan tâm như thể mình sinh ra là để gánh việc này, những khát khao, những yêu dấu gọi tôi, không được phép cho mình là trẻ nữa mà phải nhanh chóng cầm bút, vừa đi vừa học, mãi là như thế. Mười truyện ngắn được in vào tập đầu "Phù sa" anh Dương Bích Liên đọc yêu quá, nhận lời với nhà xuất bản Văn học, bảo mình sẽ vẽ bìa cho cậu này. Đấy là một lời tỏ ý khen ngợi, là sự trân trọng cảm động của một họa sĩ lớn, một người anh với một cây bút trẻ.
Hình như nhà văn Nguyễn Khải và nhà văn Nguyễn Minh Châu cũng từng đánh giá ông rất cao?
Hồi ấy tôi là một thằng bé vừa lớn, tí tuổi đầu đã kịp học hành gì, đã kịp đi đến đâu vậy mà cứ vùi đầu vào viết, viết đến đâu in đến đấy. Anh Nguyễn Khải nói với anh Nguyễn Minh Châu: "Đấy là cụ kỵ tổ tiên làng nước nhập vào nó". Anh Châu thì bảo: "Chu là một cái cây mọc tự nhiên chẳng ai trồng và người ta cũng không định trồng... Rồi cuối cùng hóa ra nó lại là cây quế, một cây quế giữa rừng, ai bảo quế là không quý. Những gì thằng Chu nó đang viết ra đều là thuộc về "hình nhi thượng" như cổ nhân đã bàn, những thứ khó nhìn thấy, nhiều khi chỉ có thể mơ hồ cảm nhận, đó chính là những ký ức văn hóa mỗi chúng ta đều đang cất giữ, nó làm nên bản sắc chung cả một dân tộc".
Vậy với những mối quan tâm xa xôi thế liệu có gặp khó khăn gì trong tư cách một nhà văn cầm bút thời chiến?
Những năm chiến tranh tôi phải viết nhiều bút ký báo chí phản ánh kịp thời, phục vụ kịp thời. Những điều nói trên vẫn là một nền tảng ngày càng vững chắc để tôi có đủ nội lực cho những trang viết về chiến tranh. Nói to tát một chút, đấy là nguồn cơn của lòng yêu nước mà mỗi chúng ta đều có, nghĩ cũng chẳng có gì khác người và đã có gì là mới lạ. Những trang văn trong chiến tranh của chúng ta suy cho cùng đều là kể về người nông dân Việt Nam ra trận mỗi khi có giặc mà thôi. Nhìn lại tôi thấy mình được học hỏi, trưởng thành nhiều trong giai đoạn này. Đời tôi có mấy nơi tôi phải chịu ơn dìu dắt, một là Cục Chính trị Bộ Tư lệnh Phòng không không quân, nơi tôi có 10 năm phục vụ. Hai là tạp chí VNQĐ, nơi tôi đi về trong suốt cuộc chiến tranh, nơi những tác phẩm đầu tay của tôi được đón nhận. Và sau cùng là Hội Nhà văn Việt Nam - nơi tôi đã có gần 40 năm công tác về sau này.
Nhà báo Trần Đức, Phó Tổng BT Báo Bắc Giang tặng hoa cho Nhà văn Đỗ Chu
Theo chúng tôi biết lần này ông nhận giải thưởng Hồ Chí Minh với cụm tác phẩm gồm tập truyện ngắn "Một loài chim trên sóng" và tập tùy bút "Tản mạn trước đèn", xin ông nói đôi chút để bạn đọc hiểu về hai tác phẩm này?
Đấy là hai tập sách in sau khi nhận Giải thưởng Nhà nước năm 2001. "Một loài chim trên sóng" khi ra đời liền được trao giải thưởng của Hội Nhà văn rồi năm sau đi Thái Lan nhận Giải thưởng Văn học ASEAN. Cái tên truyện đã thể hiện nội dung của nó, dân tộc chúng ta, có thể hình dung suốt mấy ngàn năm tồn tại và phát triển là một con đường dài nhiều chìm nổi, như một đàn chim ăn ngủ trên sóng, nhiều lênh đênh lắm. Nhìn về lâu dài, nghĩ mà xem, vẫn thế. Dũng cảm, kiêu hãnh và khôn ngoan lắm đấy nhưng mà hiểm nghèo không ít. Cần phải tự biết mình và cần phải biết nhìn xa lường tính xa, "tân viễn lưu trường" là vậy.
Còn tập tùy bút "Tản mạn trước đèn" cũng được giải thưởng hàng năm của Hội Nhà văn, là những gì mình nghĩ trước đèn trong những đêm không ngủ, nghĩ về đất nước, nghĩ về cách mạng, nghĩ về bạn bè, người thân. Nó là tập đầu của bộ tùy bút ba cuốn. Tập hai "Thăm thẳm bóng người" cũng đã in, không đưa vào giải lần này vì chưa đủ năm theo quy định của giải thưởng. Tuy nhiên cũng như tập đầu, nó đang được bạn đọc gần xa đón nhận. Tập thứ ba là "Đường xa" viết về đất nước những năm này và đặc biệt là những trang viết về người Việt đang ở nước ngoài, có thể sẽ in vào cuối năm. Trong tập này tôi cũng có nhiều gửi gắm.
Trở lại vấn đề giải thưởng trao tặng lần này, ông thấy có gì cần chia sẻ với bạn đọc?
Tôi rất lấy làm vinh hạnh được đứng cùng những gương mặt xuất sắc của một giai đoạn văn học. Sự thực chúng tôi đều hiểu nếu có vui thì đây cũng chỉ là niềm vui của những người cầm bút được xem là hoàn thành nhiệm vụ sau chặng đường dài của nghiệp văn nay đã đến hồi cuối. Không một ai trong chúng tôi dám xem mình là một tài năng lớn, họa có là dở mới nghĩ mình là thiên tài. Ước gì văn học chúng ta lúc này sớm có một thiên tài, chỉ có thiên tài mới giải quyết được rất nhiều điều mà anh em chúng ta lúc này đang bức xúc. Nhưng thiên tài lúc nào xuất hiện lại là một việc rất ngẫu nhĩ, ngay cả khi đã có nó thì chúng ta vẫn chẳng ai thay thế nổi cho ai, đấy là đóng góp phần nhỏ của bản thân để xây dựng nền tảng cho một cơ ngơi văn học lớn nước nhà. Nhân dịp này, qua các bạn tôi xin phép được gửi lời chân thành cảm ơn và thăm hỏi tới tập thể những người làm báo Bắc Giang cũng như tới toàn thể quê hương yêu quý.
Xin trân trọng cảm ơn ông!
Trần Đức - Ngọc Anh
(Nguồn: Báo Bắc Giang)