Phải chăng đó là một sự chờ đợi lâu lắm rồi nhưng chưa thể nào gặp mặt. Thu qua rồi thu lại bổi hổi bồi hồi mà chưa thể cùng nhau dạo bước ngắm cảnh phố phường thưởng thức hương sen thơm ngát. Đôi thi nhân như hòa vào đất trời cuối thu Hà Nội để cùng nhau tức cảnh sinh tình, nồng nàn, say đắm trong nhau.
Đọc bài thơ người đọc như nghe thấy hơi thở của mùa xuân dịu dàng, tha thiết và man mác vọng về, những giọt mưa phùn cũng chính là những giọt nước mắt, vui buồn, yêu thương giữa cha trời và mẹ đất, rơi, rơi mãi hàng triệu năm nay...
Ở mỗi độ xuân về, ai đã có dịp đến với cao nguyên đá Đồng Văn, hay các triền non vùng cao khác, hẳn sẽ bị thu hút quyến rũ bởi một màu vàng, vâng đó chính là màu hoa cải làm nên bức tranh xuân tuyệt mỹ.
Lời ca Hát Ví chủ yếu dùng thơ lục bát, lục bát biến thể và đôi khi song thất lục bát. Ít thì một cặp thơ cũng thành vế đối đáp, xướng họa. Ở đây, do tính chất đối đáp đặc thù nên lời ca mỗi vế xướng họa tất không thể quá dài, sẽ gây khó khăn cho bạn hát. Trong Hát Ví nói chung, tùy theo trường hợp một hay nhiều người tham gia mỗi bên, thông thường người ta dùng câu ca đặc trưng “Anh hai ơi!”, “Cô hai ơi!”, “Chị hai ơi!”…
Người Việt Nam rất sính thơ. Có người còn mạnh dạn cho rằng mỗi người Việt Nam là một thi sĩ. Ðiều nầy không hẳn là đúng, nhưng câu ví đó rất hợp tình hợp lý vì ai ai cũng có thể "nói thơ" được, bất luận người ấy có trình độ học vấn cao thấp như thế nào.
Ý tưởng của bài thơ sâu sắc, đa nghĩa. Lục bát duyên dáng và tài hoa. Nhiều chữ dùng đắt giá./.
Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn là tác phẩm thơ chữ Hán xuất sắc trong Văn học cổ điển nước ta. Từ xưa đến nay đã có nghiều người dịch ra quốc âm, trong đó bản dịch của Đoàn Thị Điểm (hay của Phan Huy Ích?) là bản dịch thông dụng nhất (BDTDN)
Bài thơ Lục bát” Em bán vé số” đã khép lại. Ta phảng phất nghe như có nhạc, thấp thoáng như có bóng hình. Nhiều thủ pháp nghệ thuật được sử dụng, nhiều hình ảnh được khái quát. Từ hiện thực cuộc sống mà hồn thơ được cất cánh. Nét quý trọng mà ta ghi nhận đó là tấm lòng của tác giả đối với số phận con người - Con người nghèo khó không nơi ăn chốn ở. Bài thơ chắc sẽ chấn động bao trái tim còn đang mơ hồ bàng quang trước những cuộc đời còn đầy giông bão./.
Đi khắp bốn phương trời, dù có là ai, dù ở vị trí nào, thì bao giờ cuối cùng nơi người ta muốn về nhất cũng là nơi chôn rau cắt rốn của mình.
Nói đến thơ Lục Bát là nói đến một sản phẩm văn hoá tinh thần độc đáo của dân tộc Việt. Hầu hết những người làm thơ đều đã ít nhất một lần làm thơ Lục Bát. Đã có nhiều tác giả trở thành nổi tiếng với những tác phẩm thơ lục bát mà tiêu biểu nhất là Nguyễn Du với kiệt tác Truyện Kiều, sau này có Nguyễn Bính, Tố Hữu, Huy Cận, Nguyên Sa, Bùi Giáng, Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn… cũng đã gặt hái được thành công từ thể thơ Lục Bát.
Thiết nghĩ tìm hiểu đôi điều về thể thơ Lục Bát cũng là điều cần thiết cho cả người làm thơ và công chúng yêu thơ.
Sinh thời, cha tôi, nhà thơ, nhà văn Nguyễn Văn Phúc, là bạn thân của nhà thơ Trần Lê Văn, nhà thơ Quang Dũng và nhà thơ Ngô Quân Miện. Mỗi khi gia đình tôi và gia đình các bác có chuyện vui, các nhà thơ đều tặng thơ cho nhau.
Với mẹ, hình như đồ vật nào cũng đều có sự gắn bó gần gũi, mang tình nghĩa thắm thiết, thủy chung sau trước.