Có lẽ người đầu tiên quan tâm đến chuyện đặt tên nhân vật của Nguyễn Minh Châu là nhà nghiên cứu Phạm Duy Nghĩa. Trong cuốn chuyên luận Nhà văn Nguyễn Minh Châu và cảm hứng nhân văn (Nxb Hội Nhà văn, 2006), Phạm Duy Nghĩa đã viết ở trang 125: “Cách đặt tên nhân vật của Nguyễn Minh Châu thường hàm ẩn một thái độ đánh giá tích cực. Đó là cô Nết nết na, cô Thùy thùy mị, cô Nguyệt trong trẻo như ánh trăng tươi mát…”. Hẳn rằng, chuyện Nguyễn Minh Châu đặt tên nhân vật sẽ là một câu chuyện dài. Ba truyện ngắn tiêu biểu dưới đây (đều đã được đưa vào sách giáo khoa trong nhiều năm, nhiều cấp học) giúp ta thấy Nguyễn Minh Châu đã chọn đặt tên nhân vật như thế nào. Nhìn chung tên các nhân vật của ông không xuất hiện một cách ngẫu nhiên mà trong một chừng mực nào đó có sự liên quan, gắn bó với chủ đề - tư tưởng của tác phẩm, với dụng ý nghệ thuật của nhà văn.
Nhà văn Nguyễn Minh Châu
Băn khoăn về chuyện đặt tên
Trong cuốn sách Việt Nam phong tục Phan Kế Bính đã cho biết khá tường tận về chuyện đặt tên con của người Việt. Tác phẩm văn chương là đứa con tinh thần của nhà văn, có lẽ nhà văn nào cũng ít nhiều từng trăn trở với việc đặt tên tác phẩm. Nam Cao đã đi từ tên truyện Cái lò gạch cũ – nhà xuất bản khi in đã tự ý đổi thành Đôi lứa xứng đôi - tới tên truyện Chí Phèo. Ông cũng đã đổi tên truyện từ Tiên sư anh Tào Tháo sang một nhan đề giản dị và ý nghĩa hơn: Đôi mắt. Câu chuyện tên của nhân vật trong văn chương cũng cho thấy nhiều chi tiết phong phú như thế! (tất nhiên cũng có những ngoại lệ. Trước Cách mạng tháng Tám 1945, trong tình thế bị “áo cơm ghì sát đất” (Nam Cao), bởi Nỗi đời cay cực đang giơ vuốt/ Cơm áo không đùa với khách thơ (Xuân Diệu), nhiều nhà văn viết tiểu thuyết đăng nhiều kì, có khi cùng một lúc viết cho nhiều báo, nhiều cuốn sách, có nhà văn kể rằng đã nghĩ tên nhân vật, nhưng đến kì báo sau lại quên, đành để trống, nhờ tòa báo điền giúp!)
Các nhà văn từng công tác ở Tạp chí Văn nghệ quân đội cũng có nhiều băn khoăn với việc đặt tên tác phẩm. Cuốn sách Dĩ vãng phía trước của Ngô Thảo (Nxb Hội Nhà văn 2011, đoạt Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội 2012), với những tư liệu có lẽ là lần đầu được công bố cho thấy rõ điều này. Nguyễn Khải đã nói về tên những tác phẩm của mình: “Mùa lạc nghe ra sách nông nghiệp, Xung đột ra sách chính trị. Lại còn Chủ tịch huyện nữa chứ. Tôi đặt tên không hay” (Dĩ vãng phía trước, trang 73). Nguyễn Khải nhân đó còn nói về tên sách của đồng nghiệp: “Nội dung sách ông Xuân Sách thì rất hiện đại, rất Nga, mà tên sách nghe rặt mùi Tàu! Pháo hiệu đường Chín, Trong lửa đạn. Còn tập thơ mới chưa biết chọn tên gì” (sách trên, trang 73).
Trong cuộc chuyện trò tại nhà ông giáo Bô ở Hương Ngải, Thạch Thất ngày 16 tháng 8 năm 1972, Nguyễn Minh Châu cũng có dịp nói đến tên tác phẩm: “Tôi chỉ muốn truyện hay mà đầu đề dở như của ông” (nói với Nguyễn Khải) và “Dấu chân người lính lúc đầu có tên là Trong khói lửa, nhưng sau tôi thấy khói lửa đã mù mịt cả nên đổi tên. Ngày trước nghĩ được cái tên Mảnh trăng cuối rừng tôi thích lắm, tự cho là hay. Giờ nghĩ lại thấy thối!”. Ngay lúc đó nhà văn Nguyễn Khải bảo rằng “thì dạo đó chúng tôi đã chê là cải lương, ông lại tự ái” (sách trên, trang 73).
Những trích dẫn trên từ ghi chép ở Hương Ngải của Ngô Thảo những năm tháng chống Mĩ cho thấy các nhà văn ở Văn nghệ quân đội nói chung và Nguyễn Minh Châu nói riêng có nhiều băn khoăn trăn trở về việc đặt tên cho đứa con tinh thần. Có những điều ông nói ra, hôm nay có thể khiến bạn đọc ngỡ ngàng, nhưng có lẽ nên xem đó là một biểu hiện quyết liệt cao độ trong việc chọn được một tên sách ưng ý!
Nguyễn Minh Châu đặt tên nhân vật
Có lẽ đã qua rồi, cách đặt tên nhân vật như cụ Ngô Tất Tố: Dậu, Hợi, Tí, Dần - những cái tên tự nó đã nói rất rành rẽ về năm tháng con người ấy ra đời. Những cái tên rõ ràng minh bạch về dấu ấn năm tháng có muốn giấu tuổi, quên tuổi cũng chẳng được! (bây giờ ít thấy lối đặt tên đôi cho nhân vật. Ở Văn nghệ quân đội, dường như nhà văn Nam Hà vẫn còn lưu luyến với lối đặt tên này. Bộ sách Đất miền Đông của ông có một cô gái mang tên Ngọc Linh).
Có lẽ người đầu tiên quan tâm đến chuyện đặt tên nhân vật của Nguyễn Minh Châu là nhà nghiên cứu Phạm Duy Nghĩa. Trong cuốn chuyên luận Nhà văn Nguyễn Minh Châu và cảm hứng nhân văn (Nxb Hội Nhà văn, 2006), Phạm Duy Nghĩa đã viết ở trang 125: “Cách đặt tên nhân vật của Nguyễn Minh Châu thường hàm ẩn một thái độ đánh giá tích cực. Đó là cô Nết nết na, cô Thùy thùy mị, cô Nguyệt trong trẻo như ánh trăng tươi mát…”. Hẳn rằng, chuyện Nguyễn Minh Châu đặt tên nhân vật sẽ là một câu chuyện dài. Ba truyện ngắn tiêu biểu dưới đây (đều đã được đưa vào sách giáo khoa trong nhiều năm, nhiều cấp học) giúp ta thấy Nguyễn Minh Châu đã chọn đặt tên nhân vật như thế nào. Nhìn chung tên các nhân vật của ông không xuất hiện một cách ngẫu nhiên mà trong một chừng mực nào đó có sự liên quan, gắn bó với chủ đề - tư tưởng của tác phẩm, với dụng ý nghệ thuật của nhà văn.
Truyện ngắn Mảnh trăng cuối rừng kể về một câu chuyện tình yêu trong chiến tranh, về cuộc tìm gặp của người chiến sĩ lái xe với cô thanh niên xung phong mà người chị đã giới thiệu. Người chị ấy có tên là Tính, cái tên đã ngụ ý những sắp đặt tính toán mai mối. Anh lính tên là Lãm, có nghĩa là ngắm nhìn (thưởng lãm); còn cô gái mà người chị mai mối có tên là Nguyệt nghĩa là trăng, lại chính là cô gái đi nhờ xe đang ngồi bên anh, trong một đêm trăng đường rừng, mà anh chưa thể nhận ra! Anh lính lái xe tới cầu Đá Xanh, một trọng điểm trên cung đường chiến trận, suốt đoạn đường ấy Nguyễn Minh Châu đã để cho nhân vật kể chuyện của mình quan sát nhìn ngắm, chiêm ngưỡng vẻ đẹp của trăng cùng vẻ đẹp của Nguyệt. Rồi Nguyệt và trăng nhòa lẫn trong cái nhìn mê muội lẫn cảm phục của Lãm khiến anh choáng ngợp như trông vào ảo ảnh: “Khung cửa xe phía cô gái ngồi lồng đầy bóng trăng, đến nỗi từng sợi tóc của Nguyệt đều sáng lên”.
Trong truyện ngắn Bến quê, cái ý tưởng mà tác giả muốn gửi gắm là những suy nghĩ, trăn trở về một bến sông, bến quê của một con người đã từng đi khắp các xó xỉnh trên trái đất. Đến khi ốm phải nằm liệt ở căn nhà bên dòng sông quê hương, anh mới nhận ra bến quê bến đỗ của đời người cùng những câu hỏi về hạnh phúc gắn với tình người đằm thắm, với nghĩa vợ chồng, với vẻ đẹp bến sông quê hương… Đó là những gì có thể gọi là trạng thái nhân thế mà Nguyễn Minh Châu muốn thể hiện. Nhân vật chính có tên là Nhĩ, cái tên gắn với dòng sông quê hương, thế mà hình như lúc này anh mới hiểu hết ý nghĩa của hai chữ bến quê. Người vợ của Nhĩ có tên là Liên, nghĩa là hoa sen, là một người đàn bà chịu thương chịu khó chăm chút cho chồng. Người đàn bà ấy mặc áo vá, tay gầy guộc, đã nói với người chồng ốm nặng lâu ngày: “Anh cứ yên tâm. Vất vả, tốn kém đến bao nhiêu em với các con cũng chăm lo cho anh được”. Có lẽ vì muốn nhấn mạnh hơn nữa vẻ đẹp của một người đàn bà mộc mạc, thuần khiết như một đóa sen, Nguyễn Minh Châu còn tả Liên “mặc chiếc áo nâu, chít khăn mỏ quạ”, khiến ta nhớ đến câu ca dao quen thuộc Chiếc khăn đội đầu như thể hoa sen. Trong truyện còn có một ông giáo sáng nào cũng ghé vào hỏi thăm sức khỏe của Nhĩ để khích lệ. Ông giáo ấy có tên là Khuyến. Lại có một cô bé rất xinh vẫn thường sang nhà Nhĩ đỡ đần với những tình cảm sáng trong, thanh khiết, tên là Huệ…
Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, đã được tạp chí Văn nghệ quân đội in lại như một trong những truyện ngắn xuất sắc của thế kỉ XX, một truyện ngắn rất tiêu biểu của Nguyễn Minh Châu viết ngay sau chiến tranh, thể hiện niềm trăn trở, đau đáu của nhà văn: “Phải chiến đấu cho quyền sống của từng con người, sao cho con người ngày một tốt hơn”. Người phóng viên ảnh trong truyện có tên là Phùng, cái tên mang nghĩa là bắt gặp, và Phùng đã bắt gặp những cảnh tượng để lại nhiều ấn tượng mạnh mẽ. Người nghệ sĩ đi tìm cái đẹp đã thấy một con thuyền mơ hồ lòe nhòe trong sương mù như một bức tranh mực tầu của một danh họa, đẹp đến toàn bích. Nhưng trên con thuyền ấy có một gia đình, và tại đây, Phùng đã bắt gặp người đàn bà bị chồng đánh đến tàn nhẫn không chỉ một lần. Truyện ngắn này còn có người chánh án tên là Đẩu. Đẩu có nghĩa là cái đấu để đong lường, cái tên thật thích hợp với công việc của một chánh án. Vị chánh án đầy thiện chí đã quả quyết: “Cả nước không có một người chồng nào như hắn. Chị không sống nổi với lão đàn ông vũ phu ấy đâu”. Những điều khoản của luật pháp, những gì là thiện chí, lòng tốt, tưởng như không có gì phải bàn cãi về giải pháp li hôn! Nhưng người đàn bà ấy vẫn cam chịu, không bỏ chồng, tất cả chỉ là để cho đàn con được ăn no - một vẻ đẹp khác ở góc khuất của hiện thực, vẻ đẹp của sự nhẫn nại hi sinh, của những vị tha thầm lặng. Đứa con của người đàn bà tên là Phác, nghĩa là những gì còn chưa định hình, cho nên thằng bé mới có những cách suy nghĩ ứng xử lạ lùng, thậm chí nó có thể làm những điều cực kì dại dột với bố nó chỉ là để bênh vực người mẹ.
Việc lựa chọn tên nhân vật của Nguyễn Minh Châu rõ ràng có cân nhắc đắn đo trong định hướng biểu hiện. Khi nhân vật của ông không có tên, thì đó cũng là một sự đắn đo cân nhắc. Người đàn bà bị chồng đánh trong Chiếc thuyền ngoài xa không được đặt tên, Nguyễn Minh Châu chỉ gọi là mụ, một từ dùng để chỉ những người đàn bà đứng tuổi ở miền Trung; có lúc nhà văn lại gọi là người đàn bà hàng chài, người đàn bà vùng biển. Có lẽ Nguyễn Minh Châu đã gặp gỡ Kim Lân ở cách định danh mà không định danh: người vợ của Tràng trong truyện ngắn Vợ nhặt nổi tiếng cũng là nhân vật không có tên, Kim Lân chỉ gọi là “thị”, “cô ả”, “người đàn bà”. Nguyễn Minh Châu muốn nói đến một con người bình thường lẫn vào bao con người lao động nhọc nhằn, những con người có thể gặp ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào: “Đó là một người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch (…) Mụ bước những bước chậm rãi. Bàn chân dậm trên mặt đất chắc chắn, hòa lẫn vào đám đông…”.Nhà văn Đỗ Chu từng kể lại một đêm cùng nhà văn Nguyễn Minh Châu thăm chợ Bắc Qua: “Nhìn những đống hành chất cao như đống rơm đống rạ, đàn bà con gái kẻ đứng người ngồi ngổn ngang, nhiều bà trải vải nhựa ra đất thay chiếu rồi nằm úp thìa vào nhau ngủ như chết, khăn đen nón lá trùm kín mặt”, Nguyễn Minh Châu đã bảo “nhân dân đấy” (Tản mạn trước đèn – Nxb Hội Nhà văn, 2004, trang 246).
Nhà văn Đỗ Chu đã vẽ chân dung Nguyễn Minh Châu trong “một bức sơn dầu khổ rộng. Anh ngồi bệt trên cồn cát, hai tay sục vào trong cát, áo trấn thủ của người Vệ quốc đoàn năm xưa và với một nụ cười buồn buồn. Sau lưng anh là những vạt lau trắng, lấp ló xác một chiếc xe tăng cháy, xa hơn nữa là những con sóng biển cồn cào, có bóng một con thuyền lênh đênh” (Tản mạn trước đèn, trang 148). Tưởng như, bức vẽ ấy thể hiện Nguyễn Minh Châu - tác giả của Chiếc thuyền ngoài xa - đang nghĩ đến nhân vật người đàn bà vùng biển, nghĩ đến biết bao người đàn bà nhọc nhằn, lam lũ vì con cái gia đình, những người đàn bà có thể vô danh nhưng không hề tồn tại vô nghĩa
TRẦN DUY THANH
Nguồn: VNQĐ