Xét về văn xuôi miền Trung, đội ngũ văn xuôi Huế khá mạnh. Tiếp nối thế hệ của Hoàng Phủ Ngọc Tường, Tô Nhuận Vỹ, Nguyễn Khắc Phê, Trần Thùy Mai, Hồng Nhu, Nguyễn Quang Hà, Nguyên Quân, Trần Hạ Tháp, Bạch Lê Quang, Nguyễn Xuân Hoàng, là những gương mặt đã ít nhiều tạo được gạch nối và để lại dấu ấn trong lòng độc giả như: Hồ Đăng Thanh Ngọc, Việt Hùng, Nhụy Nguyên, Lê Minh Phong, Lưu Ly, Lê Vũ Trường Giang, Meggie Phạm,... Trong đó, riêng ở tạp chí Sông Hương đã có đến 5 cây bút tham gia sáng tác mảng văn xuôi. Tuy chưa đủ để tạo nên một lực lượng mạnh so với thế hệ đàn anh nhưng những gương mặt này đã góp phần làm thúc đẩy sự phát triển văn xuôi Huế và hình thành nền tảng vững cho ngôi nhà Sông Hương.
Hồ Đăng Thanh Ngọc, Việt Hùng, Nhụy Nguyên, Lê Minh Phong, Lê Vũ Trường Giang đều làm việc tại tạp chí Sông Hương. Với công việc biên tập cho một tờ báo, họ đảm nhiệm nhiều vai trò. Hồ Đăng Thanh Ngọc, tổng biên tập tạp chí, vừa làm thơ, vừa viết bút kí, vừa tham gia viết truyện ngắn. Anh đã xuất bản: Chuyện Huế (bút kí – 2008), Đi qua cánh rừng (thơ – 2009), Đôi triêng giống của Mạ (tùy bút – 2011). Việt Hùng vừa đảm nhiệm vai trò của phó tổng biên tập vừa tham gia viết truyện ngắn khá sớm. Anh đã xuất bản 2 tập truyện ngắn: Cô gái hoàng hôn (1997), Sứ giả (2010). Nhụy Nguyên cũng xuất hiện trên nhiều lĩnh vực: thơ, văn xuôi, kí, nghiên cứu phê bình. Anh đã có những đầu sách như: Lập Thiền (thơ - 2006), Khi người ta cúi mặt (thơ - 2011), Về những đỉnh tuyệt mù (bút kí - 2011). Lê Minh Phong là một cây bút văn xuôi khá mới. Anh đã cho ra đời tập truyện ngắn Chưa đủ để gọi là khoảnh khắc (2011) và cũng đang ngấm ngầm thử sức với tiểu thuyết. Lê Vũ Trường Giang tham gia ở nhiều mảng như thơ, truyện ngắn, phê bình. Số lượng tác phẩm của anh khá nhiều nhưng chưa in thành sách. Kể ra như thế để bạn đọc thấy được sự đa tài trong sáng tạo của đội ngũ biên tập tạp chí Sông Hương.
Xét ở mảng truyện ngắn các cây bút trên đa dạng trong cách chọn đề tài, xử lý tình huống, cốt truyện, nhân vật,... đã tạo được nét riêng cho văn xuôi Huế cũng như nét riêng của tờ tạp chí địa phương. Ở họ, dẫu có người chưa in sách nhưng số lượng truyện ngắn mà họ viết và đăng trên các báo, tạp chí từ địa phương đến trung ương khá liên tục. Nghe phong thanh, Nhụy Nguyên và Lê Minh Phong đang sắp sửa trình diện tiểu thuyết theo tinh thần hậu hiện đại.
Người có duyên và vẫn miệt mài trung thành với truyện ngắn là nhà văn Việt Hùng. Anh xuất hiện và định hình phong cách truyện ngắn khá sớm, từ những năm 1990. Sự xuất hiện của hai tác phẩm “Cô gái hoàng hôn” (1997) và “Sứ giả” (2010), khoảng thời gian dài nhưng cũng là quá trình khẳng định phong cách của anh.
Truyện của Việt Hùng viết theo lối truyền thống. Nếu có một vài chi tiết ảo thì cũng chỉ nhấn nhá điểm tô tăng tính hấp dẫn cho câu chuyện (Sứ giả). Nói như thế, không phải truyện của anh không có gì mới, không có chất riêng. Với lối viết truyền thống, để tránh sự lặp lại về đề tài không phải là dễ dàng. Anh cũng viết về chiến tranh nhưng tránh hẳn kiểu ghi chép, tự sự, tôn vinh, ngợi ca chiến thắng mà thiên về tạo tình huống. Tình huống mà anh gây dựng khá bất ngờ. Anh thiên về xây dựng kiểu tình huống tâm trạng, tình huống nhận thức. Thời hậu chiến, nỗi đau về thể xác lẫn tâm hồn không dễ nguôi ngoai, nỗi ân hận, tự trách cứ vương vấn, cắn rứt dù có đi hết cuộc đời này (Âm hưởng chiến tranh, Kẻ hèn nhát). Không rơi vào mê lộ chữ, Việt Hùng cứ để mạch chảy của cảm xúc lấn át, phơi bày những hiện thực trụi trần của cuộc sống một cách nhẹ nhàng mà sâu lắng. Nhân vật được đặt trong vòng xoáy bức bách, cuối cùng, họ cũng tỉnh ngộ, khát khao được làm lại từ đầu (Người bạn trong mơ, Biếm họa,...). Trong lĩnh vực sáng tạo, người nghệ sỹ bao giờ cũng phải lao tâm khổ tứ để có thể có một tác phẩm để đời. Nguyễn Cung trong truyện “Cô gái hoàng hôn” sẵn sàng bỏ ra một số tiền lớn để có được một bức tranh nghệ thuât: sự lôi cuốn của cái nhìn, được sáng tạo bằng một tâm hồn sảng khoái và con tim phải thực sự rung động. Đó là khát vọng của bất kì một họa sĩ nào và cũng là khát vọng của nhà văn về nghệ thuật chân chính. Từ cốt truyện, nhân vật, điểm nhìn,... cho đến giọng văn, truyện ngắn của Việt Hùng không mới so với sự phát triển truyện ngắn giai đoạn này, tuy nhiên, nói như PGS. TS Hồ Thế Hà: “văn đọc có vẻ không có nhiều bóng bẩy, run rẩy nhưng lại có chiều sâu của tâm trạng và của nhân tình”. Giải thưởng Hội Văn nghệ Bình Định, tạp chí Nha Trang, tạp chí Nhật Lệ, tạp chí Cửa Việt,... là thành quả xứng đáng cho một cây bút đã khẳng định được phong cách.
Hồ Đăng Thanh Ngọc xuất phát từ nhà báo nhưng lại có duyên với văn chương. Nếu sự nhanh nhạy của báo chí giúp anh có được những bài bút kí hấp dẫn thì sự đam mê, tinh tế giúp anh có những tác phẩm văn xuôi khá hay, giàu tính triết lý. Ngòi bút của anh chạm đến những vấn đề nóng bỏng của cuộc sống, nêu cao tinh thần trách nhiệm của con người trước thực trạng xã hội còn nhiều bất cập (Nước mắt bên sông). Có những câu chuyện nhẹ nhàng mà đầy sâu lắng về cách đối nhân xử thế (Bức tranh con mèo). Trong truyện ngắn của anh, có hơi thở của ký. Sự nhòe mờ này làm nên giọng văn riêng của anh: một cái tôi tài hoa, giàu cảm xúc, triết lý. Truyện của anh nêu nhiều vấn đề mang tính thời sự: chuyện tình công sở, chuyện lên lương, thăng chức, chuyện cuỗm đồ cúng của xếp, chuyện lấn đất khi xây dựng các công trình…

Nhà văn Hồ Đăng Thanh Ngọc (trái) tháng 1/2012. Ảnh: Lãng Ma
Ngoài ra, anh cũng có nhiều bài viết khám phá mạch dòng chảy của văn học hậu hiện đại. Ở dạng này, Hồ Đăng Thanh Ngọc viết khá kín đáo. Đằng sau những câu văn có vẻ rời rạc, huyền ảo, nghịch dị,... là những thông điệp sâu sắc về cuộc sống nhân thế. Thế giới được soi chiếu qua tiếng cười. Với anh, tốt hay xấu đều gây cười. Mọi thứ đều có thể cười. Cuộc đời này là một trận cười. Nhân vật tôi trong truyện ngắn “Ngày cuối cùng của một diễn viên hài” tạo tiếng cười để mua vui cho thiên hạ. Anh ta có thể trong vai của “trong vai một tha nhân lố bịch, một tha nhân khôi hài, một tha nhân đầy những mâu thuẫn với những khoái cảm tội nghiệp...”. Anh ta có thể làm cho tất thảy mọi người đều cười nhưng không ai có thể làm cho anh ta cười. Khi anh ta từ bỏ mọi thứ để trở lại con người bình thường, khát khao cảm nhận được tiếng cười từ mọi người thì không thể. Đó là bi kịch. Bởi cuộc sống này quá nhố nhăng, kệch cỡm. Đi đến đâu cũng vấp cười. Như thế, tiếng cười đâu chỉ sinh ra niềm vui, sự nhẹ nhõm, giải tỏa nỗi buồn mà nó còn sinh ra nỗi đau của thế gian này. Anh ta tìm đến cô gái có hai mươi sáu nụ hoa nở để tìm sự sẻ chia nhưng cũng không thể. Anh ta không thể thay đổi được hình hài của mình. Ý nghĩ người-điều-khiển-tiếng-cười-của-thế-gian đã vây lấy cuộc đời anh ta. Cả thế gian không cho phép anh trở thành người bình thường mà phải luôn cười, cười cho đến chết thì thôi. Mà trong thế giới trắng đen lẫn lộn, cái gì cũng có thể cười thì làm sao anh ta có thể trở lại là chính mình được? Ở truyện “Cái cột nhà” lại được anh thử nghiệm lối viết khác. Chuyện được đặt trên nền tảng dáng dấp của truyện cổ tích, truyền kì, vẫn theo sát nút kết thúc của truyện cổ tích, ác giả ác báo, gieo gió gặp bão nhưng được soi sáng bằng cảm xúc của thời hiện đại. Ở đó, nhà văn bàn đến nhiều chuyện như: chuyện đút lót, nhận hối lộ, nhất là bàn về lòng tham của con người. Anh chọn kiểu kết thúc truyện bằng lời răn dạy của thầy chùa Phương Duyên là một kiểu kết thúc mang nhiều ý nghĩa: bài học về làm người, đối nhân xử thế. Như thế, lồng vào truyện yếu tố kì ảo (Cái cột nhà), dáng dấp truyện cổ tích, tinh thần Phật giáo, tác giả cũng ít nhiều tạo nên sắc thái riêng cho truyện ngắn này. Cái nền cũ, lối viết cũ nhưng tinh thần đã mới. Chất lãng tử trong thơ, chất trữ tình trong tùy bút, chất truyền thống và hiện đại, hậu hiện đại trong truyện ngắn kết hợp làm nên một giọng văn đa sắc, tài hoa, tinh tế.
Nếu Việt Hùng và Hồ Đăng Thanh Ngọc có bề dày về kinh nghiệm sáng tác, ít nhiều đã tạo được dấu ấn trên văn đàn thì Nhụy Nguyên, Lê Minh Phong, Lê Vũ Trường Giang, tuy còn trẻ (về cả tuổi đời lẫn sáng tác) nhưng đã khẳng định tài năng của tiếng nói trẻ, giọng văn trẻ.
Nhụy Nguyên có duyên với Phật giáo ngay từ buổi đầu đến với thơ. Tinh thần Phật giáo còn lan tỏa sang văn xuôi của anh. Câu chữ, nội dung đều đậm chất thiền. Các truyện mà anh viết đan xen cảm hứng thiền với cảm hứng ngợi ca vẻ đẹp văn hóa Chăm qua điệu múa Apsara huyền thoại của những vũ nữ Chăm (Tiên Thiên vũ nữ, Apsara & dòng kinh sám hối). Truyện của anh thường khai thác yếu tố nhị nguyên: âm – dương, mơ – tỉnh, quá khứ - hiện tại,... hòa quyện giữa tâm thức hiện đại với dòng hoài niệm về lịch sử văn hóa của dân tộc Chăm. Đặc biệt, cảm hứng thiền mang đến cho chúng ta những bài học quý giá về sự hành trì tu tập để có thể chuyển đổi từ biển mê đến bờ giác ngộ (Bảy bước đến miền cực lạc). Lê Minh Phong lại chọn cho mình dòng văn xuôi hậu hiện đại (tập truyện Chưa đủ để gọi là khoảnh khắc). Dung lượng truyện như một lát cắt, bỏ lại nhiều điểm hở, khoảng trắng. Câu chuyện không móc nối, chằng chéo như nhện giăng tơ mà chỉ lướt qua, vì thế, người đọc khó nắm bắt được những lát cắt ngẫu nhiên ấy. Song đằng sau mảnh vỡ của câu chữ, nội dung, chủ đề,... là một mạch ngầm tư tưởng, đầy triết luận của anh về cuộc sống. Anh không nhìn bằng con mắt của người bình thường mà nhìn bằng cái nhìn ảo giác để bật rõ sự méo mó, biến dạng của cuộc sống một cách tự nhiên, như thể chúng đang diễn ra trước mặt chúng ta. Việc anh kéo cái thế giới phi lý đến gần hơn với thế giới thực một phần đa dạng hiện thực, mặt khác bày tỏ sự hoài nghi hiện thực. Lối viết mà anh đang theo đuổi, tuy không phải là món ăn hứng thú đối với tất cả mọi người nhưng là món ăn lạ, ngon với bạn đọc đồng sáng tạo. Lê Vũ Trường Giang có sở trường với những truyện viết về đề tài lịch sử (Điệp huyết sa trường, Huyền thoại x.D). Cũng như Hồ Đăng Thanh Ngọc, Lê Minh Phong, Lê Vũ Trường Giang sử dụng khá nhiều yếu tố kì ảo. Nếu Hồ Đăng Thanh Ngọc, Lê Minh Phong sử dụng yếu tố kì ảo để lạ hóa hiện thực, bật lên những ngõ tối mà qua hiện thực chúng ta không thể nhận biết được thì Lê Vũ Trường Giang lại lồng yếu tố kì ảo, cụ thể là xen vào đề tài mang tính lịch sử những giấc mơ huyền ảo, không phản ánh hay soi xét lịch sử mà nhằm giải thiêng lịch sử về số phận của con người bị bức chết khi vua băng hà (Ngủ giữa trùng sơn). Ngoài ra, anh cũng có một vài truyện ngắn đang thử sức theo xu hướng hậu hiện đại (Tôi đã nôn ra những đứa trẻ).
Đội ngũ sáng tác ở Huế khá đang dạng và bề dày. Riêng căn nhà tạp chí Sông Hương có đến 5 cây bút đã khẳng định phong cách và trong quá trình định hình phong cách về mảng văn xuôi. Họ học ở đàn anh cái thâm sâu, trực diện với bề bộn đời sống, chiều dài lịch sử, nhưng biết bổ sung cho mình sự tân tiến của văn xuôi đương đại, mạnh dạn khám phá, lao mình vào cái mới mà trào lưu hậu hiện đại đã mở ra. Đây là tín hiệu đáng mừng làm nên sự vững bền và mới mẻ cho tờ tạp chí. Bởi vậy, tạp chí Sông Hương tuy là tờ tạp chí địa phương nhưng sức vươn của nó đã thoát khỏi cái áo cũ kĩ, đang dần nâng tầm và đến với bạn đọc khắp cả nước.
HOÀNG THỤY ANH
(Nguồn: Văn nghệ Trẻ)