Tôi cầm trên tay hai tập sách “Nàng Măng” và “Đối thoại trong năm” (*), cả hai cuốn do công ty VHTT Liên Việt & Nxb Hội Nhà văn ấn hành năm 2012, một về Truyện ngắn, một về Những đối thoại các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của báo Nhân Dân hằng tháng (bộ mới). Góp mặt trong hai cuốn sách là nhiều cây viết gạo cội thuộc các lĩnh vực chính trị, khoa học, ngoại giao và văn chương... Chỉ như vậy, cũng đủ để cuốn hút sự quan tâm của bạn đọc.

Ông Thịnh Giang, Phó TBT báo Nhân Dân tặng hoa
cho cán bộ, nhà báo Ban Nhân Dân hằng tháng. Ảnh: Lãng Ma
Nhiều truyện ngắn đáng đọc
Mười hai truyện ngắn, mười hai khuôn mặt văn chương khác nhau, được hiểu một cách đầy đủ theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng: từ tên tác giả, tác phẩm, tuổi đời, giới tính, nghề nghiệp đến phong cách văn chương, cũng như thâm niên cầm bút, độ “hot” của từng tác giả trên văn đàn hiện nay nói chung và truyện ngắn nói riêng.
Những cái tên như Nguyễn Văn Thọ, Sương Nguyệt Minh, Y Ban, Đỗ Tiến Thụy, Hà Phạm Phú, Nguyễn Tham Thiện Kế, Hồ Tĩnh, Dili, Đặng Thiều Quang,... dường như không xa lạ với làng văn trong nhiều năm gần đây. Song, thú vị là khi họ cùng góp mặt trong “Nàng Măng”. Theo đánh giá của những người biên tập, tổ chức bản thảo và nhà xuất bản thì đây là “những truyện ngắn đặc sắc trên Nhân dân hằng tháng năm 2012”. Còn nhà thơ Trần Đăng Khoa trong “Lời mở sách” lại cảm nhận tập sách “... như một bữa tiệc thịnh soạn, có rượu mạnh, rượu nồng,và có cả nước lã để... dã rượu...”.
Riêng tôi sau khi đọc kỹ từng truyện, cảm nhận ban đầu về tập sách là một “vườn hoa” đa sắc màu, đa phong cách và tất nhiên cũng có những bông hoa dại vẫn còn mang đậm chất “tự nhiên”, nhưng tất cả đều có mặt trong một hoa vườn văn chương- truyện ngắn.
Cuộc chiến đã lùi xa vào quá vãng gần 40 năm, những tưởng ký ức về nó dần phôi pha trong tâm trí những người cầm bút hôm nay, khi mà hàng ngày họ đang phải đối mặt với một thực tế xô bồ, bát nháo ở mọi lúc, mọi nơi, trong từng con phố, mỗi ngôi nhà, từng cơ quan, công sở và, ở mỗi người chúng ra hiện sống trong một đất nước đang tập làm kinh tế thị trường trong quãng vài chục năm. Vậy mà cuộc chiến ấy vẫn còn hối thúc ở những cây bút lính như Nguyễn Văn Thọ, Sương Nguyệt Minh, Đỗ Tiến Thụy,...
Cuộc chiến trong “Đêm nước nổi” của Sương Nguyệt Minh (S.N.M) đem đến cho bạn đọc câu chuyện một thời đã qua: mối tình một chiều giữa Kiên với chị Ngân và nhân vật phụ bé Nga. Ngân, lãng mạn như một thiên cổ tích. Ngân vào lính ra trận không bao giờ về nữa, còn bé Nga, em gái thì đã lớn khôn, trẻ trung, xinh đẹp học xong đại học về quê công tác gặp lại anh Kiên, một người lính đã xa quê từ gần hai chục năm, trong một “ Đêm nước nổi như hơn hai mươi năm trước. Cũng gió nổi lên từ hon Cái, cũng con xuồng trên đồng nước nổi minh mang. Nhưng đêm nay có trăng hon, đêm nay không có tiếng ì ầm của con đầm già và những viên đạn lửa vạch lên trời. Và út Nga mặc áo bà ba đen bó sát người, tóc buông xoã bờ vai, khuôn mặt đẹp rờ rỡ dưới trăng vàng”. Những niềm vui, nỗi buồn trong họ cứ thế mà hiện về như ngày nào trong “Đêm nước nổi” giống như nàng tiên trong truyện cổ tích bà kể hôm nào.
Mở ra một góc nhìn lại quá khứ, S.N.M cho bạn đọc thêm sa xót, thương yêu mảnh đất đau khổ này, nó cũng lí giải một điều: chính từ sự hy sinh thầm lặng của bao con người gắn bó với quê hương ấy, ta có được ngày hôm nay, thời của những con người trẻ, mới, đẹp như út Nga.
Còn trong “Lời hứa của chiến tranh” của Nguyễn Văn Thọ (N.V.T) cuộc chiến lại hiện lên ở một window chat vào lúc đêm khuya. Với Nguyễn Văn Thọ, cuộc chiến hiện về giữa ba người cựu lính chiến dường như còn khốc liệt hơn cả những gì mà họ đã từng trải nghiệm trên chiến trường 40 về trước. Câu chuyện không đùng đoàng, không có cảnh bắn và giết, chỉ là chuyện ở hậu cứ giữa tiền tuyến, nhỏ nhặt như cơm bữa đối với những ai đã từng là lính chiến, nhưng cực kì khốc liệt. Chuyện lính của N.V.T, khi còn là người trong cuộc chắc không mấy ai để tâm, song 40 năm sau Nguyễn Văn Thọ vẫn còn nhớ như in: “...Đêm ấy cả ba thằng lăn ra sốt rên hừ hừ. Suốt đêm cả ba thằng đau quằn quại trong hầm. Đấy là lần đầu tiên ở Trường Sơn biết sốt rét... Ở Trường Sơn, chả có thằng nào thoát sốt rừng cả, sốt sớm thì còn sống, cứ dằng dai mãi không sốt mà sốt một nhát là “đi Ma Cao” ngay. Thế đấy, cái mạng thằng lính hồi ấy như vậy. Một mạng sống có khi chỉ tương ứng, chỉ bằng một ống Quenin hay sáu viên Phòng Ba. Mà nó nói thật. Gần bảy tám năm, đại đội tôi, hơn chục mạng “đi Ma Cao”...”
May mắn được sống sót sau cuộc chiến, những điều ấy xem ra còn chát chúa, nhức buốt tâm can hơn gấp bội lần. Hồi ức về chiến tranh trong “Lời hứa của chiến tranh” của N.V.T như một phóng sự chiến trường, khiến những người hậu chiến không quá khó để hình dung ra chiến tranh là thế: sống- chết, được- mất, hạnh phúc- khổ đau,...đều là sản phẩm của chiến tranh. Và ngay cả lời hứa, một lời hứa giản đơn của những người lính, vậy mà trong chiến tranh hoàn toàn nó có thể trở thành điều vô nghĩa, dẫu rằng ở chỗ sâu xa nhất chẳng ai muốn thế, nhưng cũng không ai cưỡng lại được quy luật của chiến tranh.
Đỗ Tiến Thụy với “Đồng đất quê người” bằng lối viết mộc mạc, bình dị và dễ hiểu như là người kể lại những chuyện mắt thấy tai nghe bởi sự trỗi dậy của ký ức tuổi thơ ở những vùng quê, nơi có những con người quanh năm chân lấm tay bùn từ bao đời nay. Ông bố dắt cậu bé sinh ra và lớn lên nơi phố thị, chỉ biết vớt cá vàng trong bể, ăn những món ăn mẹ nấu sẵn, trải nghiệm một kỳ nghỉ hè vô cùng thú vị. “Ở những cái “trổ” như thế này, ngày xưa bố thường chọn để đắp “khăm... Cá tức mình, sẽ nhảy vọt qua và rơi vào lòng “khăm” hàng đàn. Có những cái “khăm” cá nhiều đầy ắp, bố xúc cả buổi chưa hết... Việc đắp “khăm” là phải bí mật, bất ngờ. Bí mật với cả cá và người...”
Đấy còn là một trận đấu nảy lửa của “Hội gánh vã buôn đổi” giữa ông Hội trưởng Bàm Bẽm và Hội phó Soèm cùng một đội quân lên đến hơn hai chục người, trẻ ngoài hai mươi, già đến trên sáu mươi, hành nghề tận trên bản người Dao, người Mông, sát biên giới miền núi phía Bắc trong truyện “Ngồi mà xem đấu” của Nguyễn Tham Thiện Kế. Chỉ nghe những cái tên ấy thôi, chưa cần đọc hết truyện đã thấy được sự lục cục, lổn nhổn, các ngón nghề đầy phiêu lưu, mạo hiểm của cái nghề gánh vã buôn đổi rồi. Ở chốn ấy chỉ cần có hai thứ duy nhất là cơ bắp và danh dự là đủ cơ hội để trở thành ông trùm. Còn những thứ mà xã hội văn minh chốn thị thành cần có, với họ xem ra đều là thừa mứa hết. Một truyện ngắn lạ và khá hay, rất đáng đọc.
Ngoài ra còn có các truyện như “Nàng Măng” của Hồ Tĩnh và “Chờ tuyết rơi” của Đặng Thiều Quang và một số truyện khác có lẽ bạn đọc cũng không dễ gì bỏ qua. Nhưng dù sao, chỉ có 12 truyện đã đăng trên Nhân dân hàng tháng - 2012, cũng ít nhiều cho ta thấy diện mạo truyện ngắn Việt trong năm. Có kì vọng về điều gì đấy ở các cây bút văn chương, song cũng thấy được sự trồi sụt khi đặt cạnh nhiều tác giả thành một tập sách.
Talkshow về vấn đề báo chí sáng 12/12/2012 với sự tham gia của PGS-TS Đào Duy Quát,
nhà thơ Trần Đăng Khoa, TS Minh Phong và nhà văn DiLi. Ảnh: Lãng Ma
Những góc nhìn đa chiều, thẳng thắn về kinh tế- xã hội
Ngoài diễn ngôn của các cây đa, cây đề trong giới văn chương- nghệ thuật như: Tô Hoài, Đỗ Chu, Trang Thế Hy, Chu Lai, Phạm Tuyên, Lê Hoàng, Lê Thiết Cương,...cuốn “Đối thoại trong năm” hấp dẫn bởi sức nóng của các vấn đề kinh tế- xã hội và văn hóa hiện nay, được chính những người đã và đang nắm giữ những trọng trách, lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội như: nhà sử học Dương Trung Quốc, nhà ngoại giao Tôn Nữ Thị Ninh, nhà báo lão thành Hữu Thọ, nguyên Ủy viên T.Ư Đảng, Phó Chủ nhiệm Thường trực Ủy ban Kiểm tra T.Ư Vũ Quốc Hùng, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Nguyễn Minh Nhị (Bảy Nhị), Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, Đỗ Quý Doãn, Giáo sư Võ Tòng Xuân, Viện trưởng Viện Chiến lược chính sách phát triển Nông nghiệp nông thôn, T.S Đặng Kim Sơn,... trả lời phỏng vấn và cũng là vấn đề được đông đảo người dân quan tâm.
Trước khi đọc tập “Đối thoại trong năm”, tôi những tưởng báo Nhân dân là tờ báo chính thống của Đảng, thường chỉ nói những gì rõ mười mươi, có lợi cho dân cho nước. Đến khi đọc xong, tôi thấy cần phải thay đổi cách nhìn nhận của mình. Bởi lẽ trong cuốn sách này, dù là trả lời phỏng vấn về những vấn đề văn chương- nghệ thuật, khoa học hay là đặc biệt quanh những vẫn đề kinh tế- xã hội thực sự tạo ra sức hút khi nó cận và thẳng tuột không che đậy nhiều vấn đề tồn động trong toàn xã hội.
Trước hết, vấn đề tham nhũng đã được Bí thư thành ủy Hội An Nguyễn Sự trả lời một cách thẳng thắn trong bài: “Nếu đặt mục đích làm giàu thì đừng làm quan”, khi ông cho rằng: “... Tôi vẫn nói với anh em cộng sự của tôi rằng, người ta có thể biến những ruộng lúa, cánh đồng thành nhà máy, khách sạn... chỉ bằng một chủ trương. Nhưng trong lịch sử, ít nhất là trong quãng thời gian mà tôi biết, chưa từng thấy ai biến một nhà máy, khách sạn, đô thị mới trở lại thành cánh đồng. Vì thế, cái gì làm dễ mà sửa khó thì phải vô cùng thận trọng,...”.
Điều này cũng đã được nhiều đại biểu Quốc hội đề cập đến trong kỳ họp vừa qua. Đất đai là lĩnh vực tiềm ẩn nguy cơ tham nhũng nhiều nhất cả về phạm vi, mức độ. Từ trung ương đến cơ sơ với những mức độ và thời gian khác nhau, ít là vài trăm mét nhiều có khi lên đến hàng chục, hàng trăm héc ta. Đã dính vào đất đai, sự tham nhũng tiền tỷ là chuyện không còn xa lạ gì. Vì thế quan điểm sống của ông Bí thư có “bàn tay thép” này rất rõ ràng và thẳng thắn: “Nếu nhiều người ghét thì phải xem lại mình, nhưng nếu nhiều người yêu cũng phải xem lại mình. Yêu hay hét với tôi không quan trọng. Điều tôi quan trọng nhất, là sống đừng để người ta khinh?...”
Về vấn đề Giáo dục- Đào tạo, theo Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết, nguyên là đại biểu Quốc hội nhiều khóa thì cần phải nhìn thẳng vào sự thật của nền giáo dục nước ta hiện nay mới có thể đưa ra chủ trương, đường lối đổi mới đúng đắn, ít tốn kém hơn qua bài: “Giáo dục và Đào tạo loay hoay tìm đường đổi mới”.
Gió sư Thuyết cho rằng: Trước hết là mối quan hệ giữa những kỳ vọng lớn lao về GD- ĐT với điều kiện thực tế...” khiến “...cả người hoạch định lẫn người thực hiện chính sách đều bị ám ảnh bởi những chỉ tiêu không phù hợp với điều kiện thực tế. Giáo sư Thuyết nêu ra hai thí dụ rất sinh động là tỷ lệ “400 sinh viên/10 nghìn dân... ở nước ngoài, con số 400 này bao gồm cả những người chỉ ghi danh học một, hai môn, một, hai chuyên đề trong chương trình đại học; họ đi học để có thêm kiến thức, kỹ năng mới phục vụ công việc, chứ không phải để lấy bằng. Còn ở nước ta thì chỉ tính số sinh viên học trọn vẹn chương trình để lấy bằng; bởi vậy mà cho mở trường tràn lan, không tính đến điều kiện bảo đảm chất lượng”.
Làm như vậy, không những không phù hợp với điều kiên thực tế của nền kinh tế nước ta, mà vô hình chung còn tạo nên áp lực đối với đời sống dân sinh. “Lẽ ra lúc này phải tập trung phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo đại học, làm sao cho sinh viên ra trường đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động thì ta lại phấn đấu có trường đại học lọt vào tốp 100 của thế giới và tốp 200 của châu Á. Chỉ tiêu này cũng là một biểu hiện chạy theo bề nổi”.
Đặc biệt, cuộc đối thoại với nhân vật ông Bảy Nhị (Nguyễn Minh Nhị) có tựa đề “Ông Bảy Nhị và bốn phép toán làm quan” là bài viết có sức hút lớn đối với người đọc. Những chia sẻ về “bí quyết làm quan”, “chẳng giống ai” được ông Nguyễn Minh Nhị chia sẻ hết sức chân thành mà thẳng thắn. Ở đây rất cần ghi nhận sự cởi mở, đổi mới tư duy của những người làm báo Đảng. Bài viết này cũng là một trong những bài báo được dư luận khá chú ý trong thời gian qua của tờ Nhân Dân Hằng tháng.
Xem ra, chỉ cần vài ba trong số hàng chục vấn đề được nêu ra trong cuốn sách, chúng ta cũng có thể hình dung sức nóng của cuộc sống đang hối thúc mọi người cần phải khẩn trương và tỉnh táo nhìn thẳng vào sự thật nhằm làm thay đổi nó sao cho ngày mai sẽ luôn tốt đẹp hơn ngày hôm nay.
Điều tôi tâm đắc nhất là những vấn đề nóng như thế về văn chương- nghệ thuật, về kinh tế- xã hội và văn hóa, đã được đăng tải trên báo Nhân dân hằng tháng suốt trong năm 2012, một cách sòng phẳng, thẳng thắn, để rồi hôm nay, những ai quan tâm đến những vấn đề nói trên sẽ tiếp tục suy nghĩ, tìm ra những giải pháp cụ thể hơn góp thành sức mạnh tri thức đóng góp cho nhân dân, cho Đảng và nhà nước.
*
* *
Khép lại hai tập sách trong một năm, dù có những cái đạt và chưa đạt ở mỗi truyện ngắn, bài viết, nhưng một điều khó có thể phủ nhận là Nhân dân hằng tháng qua hai cuốn sách này đã ít nhiều mang lại cho bạn đọc nhiều dư vị. Xin chúc mừng các nhà làm báo NDHT, một ấn phẩm có nhiều sắc thái, từ phong cách đến chất lượng bài vở.
ĐỖ NGỌC YÊN
________________________
(*) Nàng Măng (tuyển truyện ngắn đặc sắc trên Nhân Dân hằng tháng) và Đối thoại trong năm (các cuộc trò chuyện trên Nhân Dân hằng tháng), Liên Việt & Nxb Hội Nhà văn, 2012.